chương 1 Trong chương này tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó trình bày về tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày luận văn này ở những chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này, tác giả tiến hành trình bày các cơ sở lý luận về hệ số an toàn vốn, quy định về hệ số an toàn vốn theo Basel cũng như một số quy định tại Việt Nam. Tiếp đến là phần tổng quan về các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của NH TMCP.
Đồng thời, chương này cũng khảo lược các nghiên cứu thưc nghiệm trước đây ở trong và ngoài nước về tác động của các yếu tố đến hệ số an toàn vốn.1 Cơ sở lý thuyết về hệ số an toàn vốn 2.1 Khái niệm hệ số an toàn vốn Nhắc đến hệ số an toàn vốn thì không thể không nói tới Uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (The Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), vì đây là tổ chức tiên phong trong việc tiêu chuẩn hoá cách đo lường chỉ số này. Theo đó, hệ số an toàn vốn được định nghĩa là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ về vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Chỉ số này biểu thị sức mạnh tài chính và mức độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Theo như thông tư 22/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do NHNN Việt Nam ban hành.
Theo đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo quan điểm của Aspal, P. (2014), hệ số an toàn vốn được xem là một trong những chỉ tiêu để đánh giá về sức khỏe tài chính của các ngân hàng và cực kỳ hữu ích trong việc ngăn chặn các ngân hàng tránh rơi vào phá sản. Hệ số CAR cao được coi là một biện pháp tự vệ, bảo vệ các bên liên quan và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.
Theo quan điểm của Nguyễn Đăng Dờn (2012), hệ số an toàn vốn là tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có rủi ro quy đổi. Đây là chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh 7 năng lực tài chính của các NHTM, cũng như đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM. Như vậy có thể thấy hệ số an toàn vốn là thước đo về vốn tự có của ngân hàng đối với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro. Chỉ số này không chỉ biểu thị sức mạnh tài chính, xác định khả năng thanh toán các khoản nợ cũng như khi đối mặt với các rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường.
Một khi ngân hàng đảm bảo được hệ số này thì không những tự bảo vệ mình khỏi những cú sốc tài chính mà còn bảo vệ người gửi tiền, đảm bảo sự an toàn của hệ thống tài chính và nền kinh tế.2 Sự ra đời hệ số an toàn vốn Sự ra đời và phát triển của hệ số an toàn vốn gắn liền mật thiết với Uỷ ban Basel. Theo Khuất Duy Tuấn và Bùi Văn Hải (2017), sau cuộc khủng hoảng thị trường tài chính dẫn đến sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng vào những năm cuối của thập niên 70, Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước thuộc nhóm G10 đã thành lập một Uỷ ban về các quy định hoạt động ngân hàng và thông lệ giám sát, sau này đổi tên là Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS). Ủy ban này đóng vai trò như một diễn đàn hợp tác định kỳ giữa các nước thành viên về các vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát ngân hàng với mục đích tăng cường ổn định tài chính thông qua việc nâng cao kiến thức về giám sát và tăng cường chất lượng giám sát ngân hàng toàn cầu. Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Base I (the Basel Capital Accord) hay Basel I.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%. Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Tuy nhiên, những tiến bộ trong thông lệ Ngân hàng cũng như những điểm yếu diễn ra sau khi áp dụng Basel I dẫn đến một thực tế là các chuẩn mực vốn cần phải linh động để đảm bảo tính hiệu quả. Theo đó, các chuẩn mực cần thể hiện những thay đổi trong khu vực tài chính và giải quyết những bất cập về chính sách được bộc lộ qua 8 khủng hoảng tài chính.
Vì vậy mà BCBS đã đưa các thay đổi này vào Hiệp ước vốn Basel II vào năm 2004 và Basel III vào năm 2010.3 Đo lường hệ số an toàn vốn 2.1 Theo Hiệp ước vốn Basel Bảng 2.1 Công thức tính hệ số an toàn vốn qua từng thời kỳ của Basel Mốc ban hành Công thức tính CAR BASEL Vốn tự có I 1988 Tài sản điều chỉnh rủi ro (Risk-Weighted Asset, RWA) - Rủi ro tín dụng BASEL Vốn tự có II 2004 RWA- Rủi ro tín dụng+RWA- Rủi ro hoạt động+RWA- Rủi ro thị trường BASEL Vốn tự có III 2010 RWA- Rủi ro tín dụng+RWA- Rủi ro hoạt động+RWA- Rủi ro thị trường Nguồn: NHNN Việt Nam 2.2 Theo quy định tại Việt Nam 9 Bảng 2.2 Các mốc chính trong quy định hệ số an toàn vốn tại Việt Nam Văn bản Năm ban Năm thực Quy định về CAR hành hiện Quyết định số 457/2005/QĐ- 19/04/2005 06/05/2005 CAR ≥ 8% NHNN Thông tư CAR≥ 9% 13/2010/TT-NHNN 20/05/2010 01/10/2010 Các nhóm tài sản có rủi ro: 0%, (đã hiết hiệu lực) 20%, 50%, 100%, 150% và 250% Thông tư CAR ≥9% 36/2014/TT-NHNN 20/11/2014 01/02/2015 Các nhóm tài sản có rủi ro: 0%, (đã hiết hiệu lực) 20%, 50%, 100% và 150%. Thông tư CAR ≥9% 06/2016/TT-NHNN 27/05/2016 01/06/2016 Hệ số tài sản có rủi ro trong bất (đã hiết hiệu lực) động sản tăng từ150% đến 200%. Thông tư CAR ≥8%, 41/2016/TT-NHNN 30/12/2016 01/01/2020 Bao gồm cả rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường Thông tư số CAR được sửa đổi, bổ sung 19/2017/TT-NHNN 28/12/2017 12/02/2017 cấu phần và cách xác định cấu (đã hiết hiệu lực) phần vốn tự có, hệ số rủi ro của một số khoản phải đòi Thông tư số 31/07/2018 31/07/2018 Sửa đổi bổ sung một số điều của 16/2018/TT-NHNN Thông tư Thông tư 36/2014/TT- (đã hiết hiệu lực) NHNN Thông tư số 15/11/2019 01/01/2020 Quy định về lộ trình giảm tỉ lệ 22/2019/TT-NHNN vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung dài hạn xuống 30%; tăng hệ số rủi ro với cho vay bất động sản tiêu dùng lên 150%. Thông tư số 31/12/2020 14/02/2021 Quy định về tỷ lệ an toàn vốn 23/2020/TT-NHNN riêng lẻ và hợp nhất ≥ 9% Nguồn: NHNN Việt Nam Theo Bảng 2.2, tính đến thời điểm hiện tại NHNN Việt Nam đã áp dụng Basel I hoàn toàn, và một phần Basel II trong cách tính hệ số an toàn vốn đã được thể hiện trong các Thông tư 13, 36, 06,.
Đến Thông tư 23/2020/TT-NHNN, các tiêu chuẩn tính toán hệ số an toàn vốn đã tương đối tiệm cận với các tiêu chuẩn trong Basel II. 10 Cụ thể cấu phần và cách xác định vốn tự có cũng như phân nhóm tài sản rủi ro được quy định trong Thông tư 23/2020/TT-NHNN sẽ được tác giả trình bày trong phần phụ lục.4 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Đối với ngân hàng thương mại: Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đảm bảo năng lực tài chính của một ngân hàng, nó thể hiện khả năng bảo vệ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. Do đó, việc áp dụng một tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng hỗ trợ rất nhiều trong việc xây dựng và duy trì một hệ thống tài chính quốc gia lành mạnh và hiệu quả (Bahiru Workneh, 2014). Bên cạnh đó, thực hiện đúng chỉ tiêu hệ số an toàn vốn còn giúp gia tăng uy tín và năng lực cạnh tranh cho các NHTM (Nguyễn Kim Chi, 2014).
Điều này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt trong hoạt động kinh doanh tiền gửi của các NHTM. Đối với nhà đầu tư: Hệ số này thường được sử dụng để báo hiệu cho người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng. Ngoài ra, hệ số an toàn vốn được sử dụng như một chỉ số quan trọng để nhà đầu tư đánh giá mức độ an toàn, khả năng phòng vệ rủi ro của từng ngân hàng. Đối với ngân hàng Nhà nước: Hệ số an toàn vốn được Ngân hàng nhà nước sử dụng làm công cụ giám sát vốn khi quy định hệ số an toàn vốn tối thiểu theo từng thời kỳ để các ngân hàng thương mại chấp hành theo quy định.
Việc kiểm soát hệ số an toàn vốn giúp đảm bảo khả năng thanh toán của các ngân hàng, bảo vệ người gửi tiền cũng như giảm thiểu khả năng phá sản của ngân hàng thương mại.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn 2.1 Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng (SIZE) được thể hiện thông qua quy mô tài sản của ngân hàng. Tổng tài sản ngày một gia tăng hay giảm đi nghĩa là ngân hàng đang trong giai đoạn mở rộng hay thu hẹp quy mô, điều này ảnh hưởng tới đáng kể tới hoạt động ngân bao gồm cả hoạt động cho vay lẫn hoạt động huy động tiền gửi dẫn đến sự ảnh hưởng đến hệ số 11 an toàn vốn của ngân hàng. Theo tác giả Nadja Dreca nghiên cứu về yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn trong hệ thống Ngân hàng Bosnian năm 2005-2010 cho rằng quy mô ngân hàng quan hệ tỷ lệ nghịch với hệ số an toàn vốn bởi vì ngân hàng càng lớn thì càng nắm giữ nhiều tài sản rủi ro hơn so với ngân hàng nhỏ. Cùng với quan điểm đó, Nguyễn Kim Chi (2014), Phạm Tiến Dũng (2017) cũng cho rằng quy mô ngân hàng rất quan trọng và có tác động ngược chiều với hệ số an toàn vốn.