Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Nội dung chính của chương trình bày về lý do chọn đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu trước Nội dung chính của chương trình bày các lý thuyết liênnquan đến hiệuuquả hoạt.động, các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngânnhàng và các nghiên cứu liên quan cũng như mô hình nghiên cứu đề xuất. 13 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tập trung giới thiệu quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và chọn mẫu cũng như đi sâu vào chi tiết về cách thức tiến hành nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức, thiết kế và xây dựng thang đo phù hợp. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung chính của chương là mô tả về dữ liệu nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và hồi quy đa biến.
Thông qua đó, mục tiêu của chương là kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Nội dung chính của chương là tóm.tắt kết quả nghiên.cứu, đưa ra những kiến nghị dựa trên kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu ở chương 4 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm có liên quan đến hiệu quả hoạt động ngân hàng 2. Ngân hàng thương mại và vai trò của NHTM Có thể nói Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Hiện nay, có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NH như: Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010) định nghĩa: “NHTM được định nghĩa là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các hoạt động kinh doanh này bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ những quan điểm và định nghĩa trên có thể rút ra: NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán,. Đồng thời thực hiện các hoạt động đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác.
Nói cách khác, NHTM chính là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa nơi dư thừa vốn và nơi có nhu cầu sử dụng vốn cho các hoạt động đầu tư kinh doanh. Như vậy, rõ ràng NHTM là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng, được ví như huyết mạch của nền kinh tế. Trước hết, với vai trò trung gian tài chính, NHTM thực hiện việc điều phối và luân chuyển các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm thành các khoản tín dụng cho các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình (thể nhân), các tổ chức, doanh nghiệp (pháp nhân) và các định chế tài chính khác nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động đầu tư. Bên cạnh các nghiệp vụ tín dụng, vai trò thanh toán, bảo lãnh, đại lý của các NHTM cũng ngày càng quan trọng hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà.
Với vai trò thanh toán, NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ như thanh toán bằng séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử,. Với vai trò người bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Với vai trò đại lý, các NHTM thay mặt khách hàng quản lý và bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đồng thời, NHTM cung cấp các khoản tín dụng cho khách hàng cá nhân và hộ gia đình, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng như tín dụng cho tiêu dùng, tín dụng cho bất động 15 sản, động sản.
Bên cạnh đó, NHTM cũng chính là một trong những thành viên quan trọng nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng. Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các NHTM đóng một vai trò quan trọng trong việc thực thi các chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được hiểu theo nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Do đó,hiệu quả hoạt động kinh doanh gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế ( phản ảnh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, hoặc của xã hội để đạt kết quả cao với chi phí thấp) và hiệu quả xã hội ( phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được trong quá trình kinh doanh).
Vì vậy, hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mức độ thành công mà các doanh nghiệp, các NH đạt được trong việc phân bổ các yếu tố đầu vào để sử dụng và các yếu tố đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã đề ra. Theo như một số quan điểm quốc tế, điển hình là quan điểm của NH trung ương Châu Âu (ECB) (2010) lại cho rằng: “Hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại.” Như vậy từ các quan điểm trên, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) để đạt mục tiêu mà các NHTM đề ra.
Phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM chính là phân tích năng lực tài chính, năng lực điều hành, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh và phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, từ đó xác định được nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý kịp thời. Nhờ đó đảm bảo hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của NHTM để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTM Các nhà nghiên cứu thường thông qua các chỉ tiêu tài chính để phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Đây là phương pháp phân tích đơn giản, các số liệu tính toán sẵn có dựa trên các báo cáo tài chính của các NHTM đã được kiểm toán và công bố công khai.
Thông qua các chỉ số tài chính, nhà quản trị có cái nhìn trực quan về hiệu quả hoạt động của NH, đồng thời có thể phân tích và so sánh tình hình tài chính giữa các NHTM với nhau. Đối với ngân hàng, hiệu quả hoạt động kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng phản ảnh trình độ quản lý mà còn là vấn đề sống còn của ngân hàng. Với xu thế hội nhập như hiện nay, ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi ngân hàng kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng và phát triển quy mô hoạt động.
Đối với ngân hàng , hiệu quả kinh doanh thường được phản ánh cụ thể bằng kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ hay còn gọi là khả năng sinh lợi tại ngân hàng. Yêu cầu đặt ra là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp, phản ánh đúng bản chất về năng lực tài chính của các NHTM. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là hai chỉ tiêu tài chính được dùng trong đánh giá hiệu suất sinh lời phổ biến nhất của hoạt động NH. Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời là ROA và ROE làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM.
a) Khả năng sinh lời trên tổng tài sản Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Asset – ROA) là thước đo đo lường hiệu quả hoạt động của NH trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành từ nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Chỉ số này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản. Tài sản của ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng.
ROA phản ánh khả năng quản trị và sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROA càng 17 cao cho thấy ban quản trị ngân hàng đang quản lí tốt tài sản và chuyển thành lợi nhuận ròng một cách hợp lí. ROA còn là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính nhằm ra quyết định huy động vốn. Công thức tính: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản b) Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu Bên cạnh chỉ số ROA, chúng ta còn có một hệ số doanh lợi khác thể hiện hiệu suất hoạt động của ngân hàng là chỉ số ROE.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) là chỉ tiêu rất được các nhà đầu tư và cổ đông quan tâm. Khi xem xét ROE, các nhà quản trị biết được một đơn vị vốn sở hữu đầu tư vào kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi nhuận. Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô.
Trị số của ROE càng cao thể hiện việc sử dụng vốn của NH trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả và ngược lại.