Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nội dung chính của chương này là trình bày cơ sở lý thuyết cơ bản liên quan đến HQHĐKD của NHTM thông qua khái niệm, đặc điểm của HQHĐKD, so sánh sự khác biệt giữa HQHĐKD và HQHĐ và nội dung của các yếu tố tác động đến HQHĐKD của NHTM hiện nay. Đồng thời luận văn cũng đề cập đến một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan mật thiết đến HQHĐKD của NHTM dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước.1 Ngân hàng và ngân hàng thương mại cổ phần NHTM theo Word Bank thì ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm. Dưới tiêu đề “các ngân hàng” gồm có các NHTM chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn và trung dài hạn, các ngân hàng đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành, các ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác.
Theo Peter S Rose (1996) ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Như vậy, trong nghiên cứu này NHTMCP là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, làm công tác tín dụng và các nghiệp vụ huy động vốn, cung cấp phương tiện thanh toán, thực hiện cung cấp các nghiệp vụ chiết khấu, dịch vụ tài chính khác với mục tiêu tồn tại, lợi nhuận và phát triển hoạt động kinh doanh trên thị trường trong nước và quốc tế.2 Hiệu quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 6 2.1 Hiệu quả: Có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả. Theo Hollingsworth và Parkin (1998) đã định nghĩa hiệu quả là việc phân bổ các nguồn tài nguyên có hạn để tối đa hóa mục đích. Theo Forsund và Hjalmarsson (1974) thì cho rằng hiệu quả là thước đo dùng để so sánh hiệu suất tốt nhất hoặc hiệu suất kỳ vọng với hiệu suất thực tế.
Theo Afonso và Aubyn (2009), hiệu quả về cơ bản là sự so sánh giữa đầu vào được sử dụng trong một số hoạt động và kết quả được tạo ra. Theo Berger và Humphrey (1997) thì việc đo lường hiệu quả là hết sức quan trọng, bởi vì thông tin thu được từ kết quả đo lường hiệu quả có thể được sử dụng để: (i) xem xét tính đúng đắn của chính sách chính phủ bằng cách đánh giá tác động của việc thay đổi các quy định, hoạt động sáp nhập hoặc cấu trúc thị trường đến hiệu quả; (ii) giải quyết các vấn đề nghiên cứu, xếp hạng các công ty trong cùng một ngành; hoặc (iii) cải thiện năng lực quản lý nhằm đạt được mức hiệu quả cao nhất. Theo Fried và ctg., (2008) cho thấy có hai động lực chính khi đo lường hiệu quả là: (i) để khám phá các giả thuyết liên quan đến sự khác biệt giữa các mức độ hiệu quả; và (ii) để cung cấp các chỉ số đánh giá các đơn vị sản xuất không chỉ ở khía cạnh tài chính mà còn về sản xuất. Theo Coelli và ctg., (2005) thì một đơn vị kinh tế hoạt động hiệu quả hơn so với một đơn vị kinh tế khác nếu nó có thể cung cấp sản phẩm nhiều hơn mà không cần sử dụng nhiều nguồn lực hơn đơn vị khác.
Như vậy, hiệu quả biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Hiệu quả trong kinh tế được xem xét là mức độ thành công mà các đơn vị sản xuất hay ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các nguồn lực đầu vào để có thể tối ưu hóa sản lượng đầu ra, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 7 Nghiên cứu về HQHĐKD là một trong những vấn đề quan trọng và phổ biến trong phân tích tài chính vì HQHĐKD của doanh nghiệp liên quan đến lợi ích của các cổ đông, nhà quản lý, chủ nợ và các đối tượng khác có quyền lợi gắn với doanh nghiệp. Tùy thuộc các mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà HQHĐKD sẽ được xem xét dưới những khía cạnh khác nhau. Theo Berger và Mester (1997) thì HQHĐKD của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí sử dụng các nguồn lực hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh.
Một doanh nghiệp hoặc ngân hàng được coi là hoạt động hiệu quả nếu nó đạt đến mức tối đa về kết quả đầu ra trong điều kiện sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào cho trước. Như vậy, HQHĐKD của ngân hàng là sự phản ánh việc các ngân hàng sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào để đạt được hiệu quả đặt ra, đồng thời giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Phương thức thông dụng nhất để đo lường lợi nhuận ngân hàng và có thể khắc phục những hạn chế của lợi nhuận ròng là thông qua Hệ số thu nhập trên tài sản (ROA) và Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) (Mishkin & Eakins, 2012). ROA và ROE là các phương thức tiện lợi để đo lường lợi nhuận ngân hàng bởi hai hệ số này chứng minh một ngân hàng đã sử dụng tài sản hay cổ phần của mình hiệu quả như thế nào để kiếm lợi nhuận.
Theo Casu và ctg, (2006), hệ số ROA và ROE của một ngân hàng được tính như sau: ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản. ROE = Lợi nhuận sau thuế / Tổng vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, người ta còn dùng hệ số NIM (Net Interest Margin) là sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, cho biết hiện các ngân hàng đang thực sự hưởng chênh lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu. 8 NIM = Thu nhập lãi thuấn / Tài sản sinh lãi.
Các lý thuyết có liên quan 2.1 Lý thuyết đo lường hiệu quả Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Hiệu quả đo lường theo tương đối: Hiệu quả = Kết quả đầu ra/Yếu tố đầu vào Hiệu quả được đo lường tuyệt đối: Hiệu quả = Kết quả đầu ra – Yếu tố đầu vào 2.2 Lý thuyết về nguồn lực 2.1 Khái niệm Lý thuyết nguồn lực (Resource-based view) là một trong những lý thuyết kinh tế quan trọng nhất, được hầu hết doanh nghiệp của các nước phát triển áp dụng. Wernerfelt (1984) là người đầu tiên xây dựng nền tảng cho lý thuyết nguồn lực của các doanh nghiệp. Lý thuyết nguồn lực kết hợp những quan điểm truyền thông về chiến lược liên quan đến những năng lực đặc biệt của doanh nghiệp và sự không đồng nhất của năng lực các doanh nghiệp.2 Tác động Tác động đến cạnh tranh trong ngân hàng: Lý thuyết về nguồn lực cho rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, dựa trên tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng một ngành thường sử dụng những chiến lược kinh doanh khác nhau và không thể dễ dàng sao chép được, vì chiến lược kinh doanh 9 phụ thuộc vào chính nguồn lực của doanh nghiệp đó. Trọng tâm của lý thuyết nguồn lực chính là nguồn lực có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ngân hàng là doanh nghiệp với loại hình kinh doanh tiền tệ mang tính đặc thù của nền kinh tế, thì nguồn lực tài chính được coi là thước đo sức mạnh của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (Baral, 2005; Kouser, Aamir, Mehvish và Azeem, 2011; Phan Thị Hằng Nga, 2017). Lý thuyết nguồn lực được chứng minh phù hợp với các tổ chức kinh tế, trong đó có ngành ngân hàng (Joseph và Rajendran, 1992).Trọng tâm của lý thuyết nguồn lực chính là nguồn lực có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh thể hiện ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, nguồn lực có giá trị: Một nguồn lực có điều kiện để ngân hàng tạo ra giá trị mang tầm chiến lược và giá trị tạo ra đó biến thành lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, hoặc khắc phục các điểm yếu của ngân hàng. Ngoài ra, chi phí cho việc đầu tư tạo ra nguồn lực của ngân hàng không cao hơn chi phí mà doanh nghiệp thuê nguồn lực từ bên ngoài được tính theo giá trị tương lai. Thứ hai, nguồn lực phải hiếm: trong tương lai, giá trị nguồn lực của ngân hàng được phản ánh thông qua kỳ vọng giảm giá thấp trên mức thu nhập trung bình (Barney, 1991).
Thứ ba, nguồn lực rất khó bị bắt chước: nguồn lực của ngân hàng phải tạo ra giá trị gia tăng, cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng. Lợi thế cạnh tranh này sẽ bền vững nếu đối thủ cạnh tranh không thể bắt chước nguồn lực này một cách đầy đủ. Nếu nguồn lực dựa trên tri thức, sự phức hợp của các yếu tố xã hội và quan hệ nhân quả không định hình thì đối thủ cạnh tranh sẽ rất khó bắt chước.