CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại nhanh chóng trong những năm vừa qua đã tạo ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường kinh tế. Các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đã và đang mở rộng lãnh thổ hoạt động của mình và ngày càng có nhiều ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, đi cùng đó là sự gia tăng mạnh của dòng vốn quốc tế. Như các thị trường khác, thị trường tài chính giờ đây cũng phải chịu những sức ép lớn của quá trình hội nhập. Đặc biệt là hệ thống ngân hàng thương mại - tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế, ngày càng bị cạnh tranh bởi các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàng nước ngoài.
Trong môi trường cạnh tranh và đòi hỏi của hội nhập như hiện nay, hệ thống ngân hàng không những phải duy trì được sự ổn định trong hoạt động của mình mà còn phải có khả năng gia tăng cạnh tranh đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các định chế tài chính khác. Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh sẽ tác động đến ngành ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc một phần vào khả năng thích nghi và hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng trong môi trường mới này. Để đánh giá hiệu quả hoạt động của 1 ngân hàng cần có rất nhiều tiêu chí, trong đó lợi nhuận là thước đo quan trọng nhất, ngoài ra còn có các tiêu chí khác như mức độ an toàn của nguồn vốn. Việc xem xét, đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính không chỉ giúp các nhà quản trị, ban điều hành ngân hàng tìm ra những giải pháp kịp thời và hợp lý để hoàn thiện, củng cố và tăng cường lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam mà nó còn phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà đầu tư hiện hữu, nhà đầu tư tiềm năng, khách hàng, … cũng như đối với NHNN và các cơ quan chức năng khác.
Các kết quả nghiên cứu trước Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của NHTM là một chủ đề luôn nhận được nhiều sự chú ý của các chuyên gia cả trong và ngoài nước, có rất nhiều nhóm tác giả đã nghiên cứu và cố gắng giải thích về sự tương quan giữa các biến cụ thể và sự hiệu quả của hoạt động ngân hàng, tuy nhiên mỗi nghiên cứu lại lựa chọn các biến độc lập 5 cũng như các biến phụ thuộc khác nhau nên kết quả đưa ra khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân dẫn đến việc này là do các nghiên cứu ở không gian và thời gian khác nhau, do đó tùy thuộc vào từng thời kỳ và từng khu vực sẽ có kết quả không giống nhau. Các nghiên cứu nước ngoài Tài liệu gần đây nhất mà tác giả tìm được là bài nghiên cứu của Dawood (2014), sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS nghiên cứu những nhân tố vi mô ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 23 NHTM tại Pakistan trong giai đoạn 2009 - 2012. Nhóm tác giả chỉ sử dụng một biến phụ thuộc là ROA, các biến độc lập bao gồm quy mô tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, khả năng thanh khoản.
Kết quả cho thấy quy mô tổng tài sản, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản có mối quan hệ tỷ lệ thuận với ROA. Hai biến còn lại có mối tương quan âm với ROA. Nhóm tác giả Dr. Aremu và cộng sự (2013) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian cùng với mô hình hồi quy Cointegration và Error Correction để phân tích những nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cả trong ngắn hạn và dài hạn tại Nigeria từ năm 1980 đến năm 2010.
Có tất cả 12 biến độc lập được đưa vào nghiên cứu trong mỗi mô hình, còn biến phụ thuộc là các tỷ suất sinh lời ROA, ROE và NIM. Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi biến độc lập khác nhau sẽ tác động lên biến phụ thuộc khác nhau. Tuy nhiên có thể rút ra kết luận tổng quát rằng các biến thể hiện quy mô ngân hàng và hiệu quả tiết kiệm chi phí không có ý nghĩa quyết định đến các tỷ suất sinh lời. Các biến thể hiện rủi ro tín dụng và mức độ an toàn vốn đều thể hiện mối tương quan âm với lợi nhuận ngân hàng cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Biến thể hiện rủi ro thanh khoản chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng trong ngắn hạn, trong khi biến thể hiện hiệu quả sử dụng lao động chỉ có tác động trong dài hạn. Trong số các biến vĩ mô được nghiên cứu thì chỉ có tốc độ tăng cung tiền là thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Khác với nhóm tác giả trên, Ramadan, Kilani và Kaddoumi (2011) sử dụng dữ liệu được thu thập từ 10 NHTM trong khoảng thời gian 2001-2010 và mô hình hồi quy Pooled OLS để nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Jordan. Nhóm tác giả sử dụng mô hình hồi quy với tác động cố định 6 (fixed effects regression model) để nghiên cứu sự khác nhau giữa những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của mỗi ngân hàng.
Biến phụ thuộc được sử dụng để nghiên cứu là ROA và ROE. Các biến độc lập được chia thành 3 nhóm: nhóm biến liên quan đến từng ngân hàng cụ thể (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn, tỷ lệ dư nợ tín dụng trên tổng nguồn vốn, dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động), nhóm biến thể hiện môi trường cạnh tranh (tỷ trọng tổng tài sản của ba ngân hàng lớn nhất trong tổng tài sản của cả hệ thống ngân hàng, tỷ lệ tổng tài sản của hệ thống ngân hàng trên GDP) và nhóm biến vĩ mô (GDP và tỷ lệ lạm phát). Kết quả cho thấy các đặc điểm của ngân hàng Jordan giải thích một phần đáng kể của sự thay đổi trong lợi nhuận của ngân hàng. Lợi nhuận ngân hàng Jordan cao do sự ảnh hưởng của các nhân tố như có vốn tốt, hoạt động cho vay cao, rủi ro tín dụng thấp và hiệu quả quản lý chi phí.
Tương tự như nghiên cứu của Ramadan, Kilani và Kaddoumi, nhóm tác giả Panayiotis và cộng sự (2006) cũng sử dụng 3 nhóm biến độc lập để nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại 7 nước vùng Đông Nam Âu (Albania, Bosnia-Herzegovina, Bulgaria, Croatia, FYROM, Romania và Serbia-Montenegro) trong giai đoạn 1998 - 2002. Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu và xem xét tác động của cả ảnh hưởng cố định (fixed effects) lẫn ảnh hưởng ngẫu nhiên (random effects) đến các tỷ suất sinh lời ROA và ROE. Kết quả cho thấy các biến liên quan đến cấu trúc vốn, quy mô ngân hàng, tỷ lệ lạm phát có mối tương quan dương đến tỷ suất sinh lời, trong khi các biến thể hiện rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động và môi trường cạnh tranh lại có mối tương quan âm. Các biến GDP hay rủi ro thanh khoản không có ý nghĩa thống kê.
Nhóm tác giả còn kết luận rằng đối với các ngân hàng nước ngoài thì nhân tố cấu trúc vốn đóng vai trò quan trọng hơn trong việc tạo ra lợi nhuận. Một nghiên cứu về chủ đề tương tự là nghiên cứu của Anna P. Vong và Hoi Si Chan (2006) về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM tại Macao với số liệu được thu thập từ năm NHTM trong khoản thời gian 15 năm (1993-2007). Biến phụ thuộc được sử dụng cũng là ROA.
Ngoài 2 nhóm biến độc lập thường thấy, nhóm tác giả bổ sung nhóm biến mô tả cấu trúc hệ thống tài chính với hai biến là chỉ số Lerner Monopoly Index (LMM) và tỷ trọng tổng tài sản 7 của hệ thống ngân hàng trong GDP. Tương tự các nghiên cứu trước, họ cũng sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu dạng bảng. Thông qua mô hình, nhóm tác giả chứng minh được rằng các ngân hàng với quy mô vốn chủ sở hữu lớn sẽ có khả năng sinh lợi cao hơn. Các biến chi phí thuế trên lợi nhuận, thị phần, rủi ro tín dụng và dư nợ tín dụng trên tổng tài sản phản ánh mối tương quan âm với tỷ suất sinh lời.
Trong số các biến thuộc nhóm vĩ mô, chỉ có tỷ lệ lạm phát là thực sự có ảnh hưởng đến ROA. Các biến còn lại, kể cả các biến thuộc nhóm cấu trúc hệ thống tài chính đều không cho thấy ảnh hưởng đáng kể trong mô hình này. Nghiên cứu của Yong Tan và Christos Floros (2012) sử dụng dữ liệu của 101 ngân hàng Trung Quốc trong khoảng thời gian 2005 – 2009, 3 nhóm yếu tố được lựa chọn để xác định sự ảnh hưởng là nhóm yếu tố nội bộ, đặc thù ngành và nhóm yếu tố vĩ mô với các biến phụ thuộc là ROA và NIM. Nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả chi phí, hoạt động phi truyền thống, sự phát triển của ngân hàng, thị trường chứng khoán và lạm phát đều có tác động đến ROA và NIM.
Tuy nhiên vẫn xảy ra sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu với các biến độc lập là rủi ro tín dụng, thanh khoản, quy mô ngân hàng và năng suất lao động. Trong đó yếu tố năng suất lao động chỉ có tương quan dương tới ROA nhưng lại không có tác động đến NIM. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, số lượng các đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của NHTM khá phong phú, phương pháp nghiên cứu bao gồm cả định tính và định lượng. Điển hình như nghiên cứu của tác giả Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên số liệu của 39 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2012 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam thông qua chỉ tiêu ROA và ROE.