chương 1, để hiểu rõ hơn về các biến nội bộ và vĩ mô tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại, tác giả bày tỏ mong muốn thực hiện nghiên cứu về chủ đề “Tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam”. Đánh giá và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tác giả đã lựa chọn đặt câu hỏi, phương pháp và cấu trúc nghiên cứu dựa trên mục tiêu nghiên cứu nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu trong quá trình hoàn thành khóa luận. Những phát hiện của khóa luận này có thể được các nhà quản trị ngân hàng sử dụng để hỗ trợ nâng cao hiệu quả của các ngân hàng thương mại và toàn bộ hệ thống tài chính.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng Khái niệm rủi ro tín dụng Theo khuôn khổ Basel III: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết”. Hơn nữa, Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) đã mô tả rủi ro tín dụng là “Rủi ro mất tài sản có thể xảy ra khi một đối tác không đáp ứng nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ hợp đồng với ngân hàng, bao gồm cả việc không trả được nợ khi đến hạn, dù là gốc hay lãi”. Nghĩa là rủi ro tín dụng được đánh giá dựa trên việc người đi vay thực hiện các cam kết tài chính, bao gồm cả việc trả nợ gốc và lãi.
Tại Điều 3 Thông tư số 11/2021/ TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mô tả rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Như vậy, rủi ro tín dụng có thể phát sinh bất cứ lúc nào và có thể dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng, giảm giá trị thị trường của vốn ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một phần tất yếu trong hoạt động ngân hàng; trên thực tế, một ngân hàng tham gia hoạt động kinh doanh tài chính – tín dụng có thể được coi là một doanh nghiệp kinh doanh có lãi dựa trên những rủi ro liên quan đến hoạt động đó. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng là một quá trình quan trọng trong hoạt động của các tổ chức tài chính, đặc biệt là ngân hàng.
QLRR tín dụng bao gồm tổng thể tất cả các hành động nhằm kiểm soát rủi ro phát sinh trong quá trình vận hành và phát triển quy mô của 8 các ngân hàng thương mại Việt Nam như phân tích các yếu tổ rủi ro, đo lường mức độ rủi ro. Quản lý rủi ro tín dụng theo Uỷ ban Basel (2006), được định nghĩa là “việc áp dụng các biện pháp nhằm tối đa hóa tỷ suất lơi nuận được điều chỉnh theo rủi ro tín dụng trong khi vẫn duy trì số dư tín dụng trong giới hạn cho phép”. Mục đích của nguyên tắc QLRR tín dụng được Uỷ ban Basel nêu rõ là tăng lợi nhuận bằng cách đảm bảo các khoản lỗ phát sinh do rủi ro tín dụng. Tất cả những điều đó đều nằm trong giới hạn mà ngân hàng sẽ công nhận.
Theo Lê Thị Huyền Diệu (2010), quản lý rủi ro tín dụng là việc thiết lập cơ chế nhận biết, đo lường, quản lý và kiểm soát được các rủi ro hiện tại và rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng một cách đầy đủ toàn diện nhằm tối đa hóa lợi nhuận được điều chỉnh theo yếu tố rủi ro bằng cách duy trì mức độ rủi ro tín dụng trong một phạm vi chấp nhận được. Dựa trên kết quả nghiên cứu của Kutsienyo (2011), Tỷ lệ an toàn vốn (CAR), Quy mô ngân hàng (SIZE), Tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động (LDR), Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), Cung tiền tệ (LMS), Ngân hàng tập trung (BKC), Thanh khoản (AOD) và hai biến vĩ mô bao gồm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Tỷ lệ lạm phát (INF) là những biến số thể hiện khả năng sinh lời của các ngân hàng. Hơn nữa, Nợ xấu (NPL), theo tác giả Abiola và Olausi (2014), minh họa cách các ngân hàng quản lý rủi ro tín dụng bằng cách xác định Tỷ lệ tổn thất cho vay trên Tổng số tiền cho vay. Với dữ liệu hạn chế, tác giả đã lựa chọn các biến Tỷ lệ nợ xấu (NPL), Tỷ lệ an toàn vốn (CAR), Quy mô ngân hàng (SIZE), Tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động (LDR), Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), và hai yếu tố vĩ mô là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Tỷ lệ lạm phát (INF) được sử dụng trong khóa luận này.
Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại 2. Khái niệm khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thể hiện phương thức sử dụng các nguồn lực của ngân hàng nhằm đạt được lợi ích cao nhất với chi phí thấp nhất. 9 Có rất nhiều quan điểm về khả năng sinh lời của NHTM và tuỳ theo mục tiêu của khóa luận, khái niệm này có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Theo Demirgüç-Kunt và Huizinga (2004), sự ổn định tài chính của ngân hàng được coi là một yếu tố quan trọng đối với hiệu suất tài chính của chúng.
Các ngân hàng với môi trường tài chính ổn định có thể trải qua ít biến động trong lợi nhuận và rủi ro tài chính, đồng thời tạo được sự tin cậy và lòng tin từ phía khách hàng và cổ đông. Vì vậy, một hệ thống tài chính ổn định là hệ thống hoạt động kinh doanh hiệu quả và sự lành mạnh tài chính của ngân hàng. Kết quả này không chỉ thể hiện khả năng sinh lời của ngân hàng mà còn thể hiện sự ổn định thanh khoản và khả năng chấp nhận rủi ro trong tương lai của các NHTM. Theo Million và cộng sự (2015), khả năng sinh lời của một ngân hàng là một chỉ số then chốt phản ánh năng lực quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng đó.
Theo nghiên cứu, các ngân hàng có khả năng sinh lời cao thường có hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả, giúp giảm thiểu tổn thất từ các khoản vay không sinh lời và tối ưu hóa lợi nhuận. Theo Bizuayehu (2015), khả năng sinh lời của ngân hàng là một chỉ số then chốt để đánh giá hiệu quả trong việc quản lý rủi ro tín dụng và duy trì chất lượng tài sản. Sự liên kết chặt chẽ giữa quản lý rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời là yếu tố quyết định trong việc đánh giá sức khỏe tài chính và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng. Khả năng sinh lời do đó không chỉ là một chỉ số tài chính mà còn là một thước đo quan trọng về năng lực quản lý và chất lượng tài sản của ngân hàng.
Chỉ số đo lường khả năng sinh lời Do hạn chế về thời gian và năng lực nên tác giả nghiên cứu đề tài này chủ yếu xem xét, phân tích khả năng sinh lời của các NHTM sử dụng hai chỉ tiêu tài chính về khả năng sinh lời là Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) thể hiện khả năng quản lý của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ các tài sản của ngân hàng. Hầu hết các cơ quan quản lý 10 coi ROA là thước đo tốt nhất để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng, theo Hassan và Bashir (2003). Thước đo này cho thấy tổng tài sản của ngân hàng càng cao thì ROA càng thấp, nghĩa là tài sản đó ít sinh lời hơn.
Điều này hợp lý vì các ngân hàng đang gặp khó khăn hơn trong việc lựa chọn các dự án đầu tư ưu việt khi họ tăng quy mô kinh doanh. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sỡ hữu (ROE) Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là thước đo xác định mức độ sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty có hiệu quả như thế nào. Việc phân tích ROE sẽ hỗ trợ ngân hàng xác định điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động ngân hàng nói chung và khả năng sinh lời của ngân hàng nói riêng (Nguyễn Thị Quỳnh Hương, 2012). Ngoài ROA – đại diện cho lợi nhuận trung bình trên tổng tài sản của ngân hàng thì ROE phản ánh một mục tiêu cụ thể của các NHTM: hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh.
Theo phân tích thì trong lĩnh vực đầu tư, giá trị ROE di chuyển theo xu hướng của ROA; ngoài ra, chỉ số này còn thể hiện khả năng phục hồi và tác động của đòn bẩy tài chính tại các ngân hàng thương mại. Nguyễn Quang Minh, 2020). Các nhà quản lý có thể phân tích Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) để đánh giá khả năng sinh lời cũng như hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại. Trong đó, thực hiện cơ cấu lại hệ thống ngân hàng một cách khoa học nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng dài hạn và tiềm năng cạnh tranh với các tổ chức tài chính quốc tế trong tương lại (Tạp chí Tài chính số 11 – Kỳ 2 – 2015).
Giai đoạn 2009 – 2014, xu hướng chung ROE của các ngân hàng thương mại giảm dần qua các năm. Trong giai đoạn này, các ngân hàng đã triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” và xử lý nợ xấu theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, lợi nhuận của các NHTM có xu hướng giảm đáng kể. Quyết định số 1058/QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống tín dụng của các tổ chức gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020” đã giúp ích cho các 11 ngân hàng thương mại định hướng hoạt động kinh doanh của mình để tăng lợi nhuận.