chương 1 trình bày ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận, kết thúc của chương là trình bày cấu trúc của khóa luận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Trong chương 2 dựa trên cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm trong nước lẫn nước ngoài về tác động của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp, từ đó thảo luận để chỉ ra các lỗ hỏng chưa hoàn thiện trong nghiên cứu trước và thiết kế mô hình nghiên cứu cho ngành bán lẻ được niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương„3 sẽ dựa trên cơ sở lý luận và ý nghĩa thực tiễn từ các nghiên cứu trước để xây dựng hoàn chỉnh mô hình cũng như các giả thuyết nghiên cứu của bài, đồng thời trình bày quy trình thực hiện và phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng để phân tích.’ Chương 4: Kết quả nghiên cứu Dựa vào mô hình,‘quy trình và phương pháp nghiên cứu ở Chương 3 đã trình bày, Chương 4 sẽ luận giải kết quả từ quá trình phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy dữ liệu bảng theo các mô hình khác nhau. Tiếp đến 9 tiến hành những kiểm định những khiếm khuyết của mô hình từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục phù hợp.được ở Chương.khuyến nghị hàm ý chính.mang tính cá nhân để nâng cao khả năng mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp ngành bán lẻ.
Cuối cùng tác giả nêu ra những hạn chế của nghiên cứu từ đó đề xuất hướng phát triển sau này.1 Chương‘1 của khóa luận trình bài tính cấp thiết và lý do chọn đề tài nghiên cứu cấu trúc vốn luân chuyển đến nâng cao khả năng sinh lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành bán lẻ được niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh. Trình bày mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu để giải quyết vấn đề, tiếp đến trình này đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.’ 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương 2‘tác giả dựa trên cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực tiễn từ các nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước để tiến hành tổng quan các nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của các công ty. Tiếp đến tiến hành thảo luận để xác định các khoảng trống của nghiên cứu trước và từ đó thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu.1 KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 2. Quan điểm về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Theo lý thuyết kinh tế của quan điểm Adam (1776) cho rằng "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu của quá trình tiêu thụ hàng hóa".
Như vậy kết quả lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đồng.nghĩa với hiệu quả. Theo Farrell (1975) đánh giá "hiệu quả của doanh nghiệp thể hiện qua sự thành công của doanh nghiệp trong việc giải quyết vấn đề đầu ra cho thành phẩm mà công ty sản xuất với khối lượng lớn và chất lượng từ các yếu tố đầu vào cố định". Harward và Upton (1961) phát biểu như sau : "Khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận". Tính hiệu quả của việc quản lý các nguồn lực có sẵn trên thị trường được thông qua khả năng sinh lời để có thể tạo ra lợi nhuận.
Theo Pandey (1980) cho rằng "khả năng sinh lời là khả năng mà doanh nghiệp đó kiếm được lợi nhuận. Khả năng sinh lời được thể hiện qua lợi nhuận và các yếu tố liên quan khác." Việc phân tích khả năng sinh lời là thước đo đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được,"điều này liên quan đến lợi tức đầu tư của các cổ đông hay vốn được sử dụng trong kinh doanh hoặc liên quan đến doanh thu." Trong phạm vi nghiên cứu tác giả quan tâm đến đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp dựa vào sự chênh lệch giữa kết quả mà công ty mang lại với việc đánh đổi chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó là lớn hay nhỏ, từ đó có thể đánh giá được khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp. 11 Theo các đánh giá của các chuyên gia kinh tế, thị trường ngành bán lẻ Việt Nam có sự chuyển biến tích cực từ sau khi gia nhập nền kinh tế toàn cầu WTO và sự bùng phát dịch Covid-19 trên toàn cầu theo đó có nhiều nhân tố mới xuất hiện đã thúc đẩy ngành bán lẻ trong nước phát triển. Cùng với sự thâm nhập từ các doanh nghiệp ngành bán lẻ nổi tiếng từ nước ngoài tạo động lực cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đẩy mạnh phát triển hơn nữa để cạnh tranh, từ đó xuất hiện nhiều hình thức bán lẻ được xuất hiện trên thị trường để thay thế loại hình truyền thống.2 Đo lƣờng khả năng sinh lời Với các chỉ tiêu đo khả năng sinh lời thứ nhất, tỷ suất sinh lời dựa trên tổng tài sản ROA (Return on total Asset).
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho biết được mức lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp kiếm được dựa trên tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm nợ vay và vốn chủ sở hữu từ chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp. Thước đo khả năng sinh lời thứ hai, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân ROE (Return on total Equity). Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng mang lại lợi nhuận sau thuế dành cho các cổ đông tương ứng trong 100 đồng của vốn chủ sở hữu bình quân của doanh nghiệp, vì vậy chỉ số này được nhiều nhà quản lý quan tâm. Cách tiếp cận của khóa luận đến biến khả năng sinh lời sẽ sử dụng biến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA làm biến phụ thuộc để đại diện cho khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành bán lẻ được niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh.2 QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN DOANH NGHIỆP 2.1 Vốn luân chuyển Vốn„luân chuyển là một trong những khái niệm phổ biến trong các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, vốn luân chuyển của doanh nghiệp có thể phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh qua phân tích cơ cấu của vốn luân chuyển vì thế các nhà quản lý ngày càng quan tâm đến chỉ số tài chính này.‟ Vốn luân chuyển đề cập đến tiền được sử dụng bởi các hoạt động thương mại hàng ngày của doanh nghiệp.
Vốn luân chuyển hay còn là vốn khả dụng hàng ngày của một tổ chức để tiến hành các hoạt động hàng ngày, được thể hiện qua tài sản lưu động ròng (Adeniji 2008). Tương tự Akinsulire (2008), mô tả vốn luân chuyển là những hạng mục cần thiết cho việc sản xuất hàng hóa hàng ngày được bán bởi một công ty. Do đó, đó là sự vượt quá của tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn. Vốn luân chuyển theo Ngô Kim Phượng (2018) vốn luân chuyển là nguồn vốn để huy động để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.vốn luân chuyển còn được.là sự chênh lệch giá.với các khoản nợ.tính trên bảng cân đối kế toán bằng cách Tài sản lưu động trừ Nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (Dr.Jayaramailh N và Dr.
Về mặt toán học vốn luân chuyển được tính bằng hiệu của tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn hay còn được gọi là tài sản lưu động ròng. Đó là tiền mà doanh nghiệp sẵn có và cần thiết cho các hoạt động thương mại hàng ngày, đây là một phần trong tổng kinh phí cần thiết hàng ngày của doanh nghiệp (Atseye, F.2 Quản trị vốn luân chuyển Vốn luân chuyển của mỗi chu kỳ kinh doanh được chuyển hóa dưới mọi hình thức từ từ tiền mặt đến tồn kho rồi đến khoản phải thu và trở lại hình thức cơ bản ban đầu đó là tiền mặt.vốn luân chuyển hợp lý là.đặc biệt cần được các nhà quản trị theo dõi chặt chẽ để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn trong ngắn hạn cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Vì điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc sử dụng tài sản lưu động và quá trình luân chuyển tiền mặt, các khoản phải thu và quản lý hàng tồn kho nhằm mục đích 13 có thể sinh thêm lợi nhuận và cung tiền cần thiết để doanh nghiệp có thể trả được các khoản nợ hiện tại của mình. Các quyết định của nhà quản trị đến việc quản lý lượng tiền, các khoản phải thu, kiểm soát hàng tồn kho và sử dụng nguồn tài trợ sao cho tổn thất là thấp nhất.
Ngoài ra quản.là quá trình mà doanh.chính sách sử dụng vốn được nhà.vào trong hoạt.động kinh doanh hàng ngày của nhằm duy trì được các chỉ.ngắn hạn ở mức ổn định và bảo đảm tính thanh khoản trong hoạt động kinh doanh nhất là đối với doanh nghiệp ngành bán lẻ có yêu cầu tính linh hoạt trong tài sản cao. KHẢO LƢỢC CÁC NGHIÊN. Nghiên cứu nƣớc ngoài Sharma và cộng sự (2011) tiến hành nghiên cứu tác động của quản trị vốn luân chuyển được thể hiện qua biến phụ thuộc ROA (thông qua các nhân tố: Kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả tiền, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt) đến khả năng sinh lợi thông.sản (ROA) của 263 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên SGDCK Bombay (BSE) ở Ấn Độ giai đoạn 2000 – 2008. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình hồi quy OLS.tiền bình quân (AR) có tác.động tích cực lên.phụ thuộc ROA và biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) có tác động tiêu cực đến ROA.
Ponsian và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của 30 công ty sản xuất được niêm yết trên thị trường chứng khoán DSE giai đoạn 2002-2012 bằng chỉ tiêu lợi nhuận gộp (GOP). Tác giả sử dụng đồng thời 2 phương pháp nghiên cứu gồm: Phương.phân tích định.qua thống kê.tả giữa các biến và sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô. Kết quả cho thấy được chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) và thời hạn thanh toán bình quân (AP) có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận gộp trong khi đó biến 14 vòng quay hàng tồn kho và biến kỳ thu tiền có mối quan hệ tiêu cực với biến lợi nhuận gộp.hệ giữa vốn luân chuyển với khả.tại Kenya trong giai đoạn 2003- 2012. Thông qua việc sử dụng các mô hình hồi quy để phân tích: mô.bình phương.