Chương I: Tổng quan nghiên cứu về ảnh hướng cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ở chương này, tác giả sẽ giới thiệu về vấn đề cần nghiên cứu, Mục tiêu bài khóa luận, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Câu hỏi nghiên cứu, Đóng góp mới của nghiên cứu. Tập trung đưa ra tổng quan các nghiên cứu của trong nước và nước ngoài liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu theo 3 nhóm cho thấy ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và không ảnh hưởng của cấu trúc vốn đế khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trên cơ sở đó, xác định được khoảng trống của các nghiên cứu.
Chương II: Cơ sở lý luận về ảnh hướng cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ở chương 2, bài khóa luận khái quát các khái niệm về cấu trúc vốn, thành phần của cấu trúc vốn và lý thuyết nền về cấu trúc vốn. Ngoài ra ở chương này tác giả cũng trình bày lý thuyết về khả năng sinh lời, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của doanh. Từ đó, tác giả đưa ra mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương III: Phương pháp nghiên cứu. Đối với chương này tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu và phân tích các dữ liệu định tính, định lượng băng việc thu thập thông tin từ báo cáo tài chính. Dé giải quyêt được mục tiêu nghiên cứu va câu hỏi nghiên cứu, ở chương này bài khóa luận đưa ra mô hình nghiên cứu dựa vào phương pháp tiếp cận của các nghiên cứu trước đây, mô tả các biến số cũng như kỳ vọng về dấu của các biến độc lập. Đồng thời, chương này cũng nêu ra dữ liệu nghiên cứu mà bài khóa luận sử dụng.
Chương IV: Thảo luận kết quả nghiên cứu Trên cơ sở sử dụng dữ liệu có được từ báo cáo tài chính, dựa vào việc xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng tác giả sử dụng phương pháp hồi quy để đánh giá tác động của từng biến đại diện cho cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời. Sau đó, tác giả thực hiện thống kê mô ta để có cái nhìn tổng quan đối với các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu, kiểm định ma trận tự tương quan dé xem xét mối tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Sau đó, sẽ sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp với giả thuyết nghiên cứu.
Đồng thời, tác giả cũng kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bởi hệ số VIF, kiểm định tự tương quan bằng Wooldridge và kiêm định phương sai thay đổi bằng White's test. Cuối cùng dùng mô hình ước lượng (FGLS) để khắc phục các thiếu sót của mô hình. Từ đó thảo luận các kết quả đạt được. Chương V: Đề xuất, khuyến nghị nhằm tối ưu hóa cấu trúc vốn và nâng cao khả năng sinh lời của các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu đã đạt được. Đồng thời dựa vào các kết quả tìm thấy, tác giả đưa ra các khuyến nghị giúp các doanh nghiệp, đối tượng cho vay và các đối tượng khác liên quan nhằm tối ưu cấu trúc vốn và nâng cao khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Ngoài ra, tại chương này tác giả cũng xác định các hạn chê của bài khóa luận và đê xuât hướng nghiên cứu trong tương lai. CHUONG I: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE ANH HUONG CUA CẤU TRUC VON DEN KHA NANG SINH LOI CUA CAC CONG TY NIEM YET TREN THI TRUONG CHUNG KHOAN VIET NAM.1 Tổng quan nghiên cứu Trong bài khóa luận này tác giả chia tổng quan nghiên cứu thực nghiệm thành hai nhóm có kết quả nghiên cứu đồng thuận với nhau: nhóm cấu trúc vốn có tác động tích cực và nhóm cấu trúc vốn có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp.1 Các nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu của Farooq và Masood (2016) cho ra kết quả với sự tác động tích cực của cấu trúc vốn tới khả năng sinh lời của các công ty xi măng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi. Biến khả năng sinh lời được đo bằng Tobin's Q còn ty số no/ VCSH làm biến đại diện cho CTTC. Trên cơ sở kết quả của kiểm định Hausman, mô hình hồi quy FEM đã được sử dụng dé phân tích dit liệu. Kết quả thực nghiệm cho thấy đòn bây tài chính có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của doanh nghiệp và có ý nghĩa thống kê cao (1%).
Kết quả này có cùng với kết quả nghiên cứu của D. K Ater (2017) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các DN niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Nairobi - Kenya. Dữ liệu tài chính của các công ty xi măng cho thay họ dang sử dụng đòn bẩy thấp và tỷ số nợ ngắn hạn chiếm đa số. Sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài chính ngắn hạn là do thị trường vốn của Pakistan kém phát triển khiến các công ty gặp khó khăn trong việc tăng khoản vay bang cách sử dụng trái phiếu doanh nghiệp.
Hơn nữa, các công ty cũng không bị ràng buộc bởi những người cho vay trong trường hợp nợ dài hạn. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn khuyến khích các DN luôn đưa ra thước đo so sánh giữa lợi ích biên của việc sử dụng nợ dai hạn với chi phí biên của khoản nợ dài hạn trước khi tài trợ nó cho hoạt động của DN. Bên cạnh các doanh nghiệp ngành xi măng một nghiên đã được thực hiện dựa trên phân tích dữ liệu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực vật liệu cơ bản ở A Rap Xê Út trong giai đoạn từ 2009 đến 2018. Nghiên cứu của Alwalid Mohammad Saleh A.
Bài nghiên cứu đo lường khả năng sinh lời bằng tỷ số ROE, cấu trúc vốn đo lường bang ty lệ nợ ngắn hạn trên tong tài sản (SDA), tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDA) và tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản (DA). Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa tổng nợ (DA) va khả năng sinh lời bổ sung cho các nghiên cứu như Abor (2005), Hamid và những người khác (2015).Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị các nhà quản lý của các công ty đưa ra quyết định kết hợp giữa nợ ngắn han và nợ dai hạn sẽ giúp tăng khả năng sinh lời và tăng tinh thanh khoản dé đáp ứng các khoản nợ ngắn han và nợ dai hạn. Hơn nữa điều này giúp cho các công ty trở nên hấp dẫn đề thu hút dòng tiền từ các nhà đầu tư giúp cho việc mở rộng hoạt động, tăng trưởng và tối đa hóa tài sản của các cô đông. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Neneng DJuaeriah và cộng sự (2020) tại Indonesia với quy mô mẫu là 24 công ty được niêm yết trên Chứng khoán Indonesia trong giai đoạn (2013-2017).
Nghiên cứu này đã sử dụng hồi quy tuyến tinh dé phân tích mối liên hệ giữa tong no dai dién cho cau trúc vốn và kha năng sinh lời trên tài sản của các công ty. Nghiên cứu đã chứng minh các công ty có mối quan hệ tích cực giữa khả năng sinh lời và cấu trúc vốn tương ứng với độ tin cậy 5%. Đồng nghĩa với việc nếu đòn bây tài chính cao thì khả năng sinh lời cũng cao. Nghiên cứu cho rằng chỉ phí phá sản sẽ xảy ra ít hơn đối với các công ty hoạt động hiệu quả cao.
Ngoài ra nghiên cứu cũng xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và quy mô có tương quan nghịch không đáng ké với khả năng sinh lời. Vì tăng trưởng phụ thuộc vào quy mô của công ty. Tất cả các công ty không dựa vào nguồn tài chính nội bộ dé họ có khả năng xem xét phát hành vốn cổ phần bên ngoài để duy trì quyền kiểm soát. Các các công ty lớn hơn thường có nhiều lợi nhuận hơn.
Còn đối với tính thanh khoản thì có tương quan nghịch đáng kể với khả năng sinh lời. Điều này ngụ ý rang một sự thay đổi trong tính thanh khoản sẽ làm giảm khả năng sinh lời 296%. Trong một bài nghiên cứu tại Việt Nam của Châu Văn Thưởng và cộng sự (2017). Dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2007-2015 thuộc 13 nhóm ngành.
10 Nghiên cứu đã xem xét và đánh giá ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh ngành, tác động của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Băng kĩ thuật ước lượng GMM thì kết quả nghiên cứu cho thay tác động tích cực của cấu trúc von đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam. Một bài nghiên cứu khác được thực hiện bởi Đàm Thanh Tú (2015) tác giả áp dụng phương pháp hồi quy dé phân tích các nhân tố anh hưởng đến ROA va ROE của công ty Vin-Group. Tác giả đã thay được hệ số ảnh hưởng của nhân tổ “ Hệ số tự tài trợ” là 2.958 đồng nghĩa với việc khi khả năng tự tài trợ của VinGroup tăng lên 1 lần, trong điều kiện các yếu tố khác không đối thi ROE tăng 2.
Với kết quả này chứng tỏ Vingroup càng có mực độ sử dụng đòn bây tài chính cao thì khả năng sinh lời càng tăng. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể tăng ROE thông qua tăng mức sử dụng đòn bẩy tài chính khi mà khả năng sinh lời cơ bản (BEP) của nó lớn hơn lãi vay. Qua đây, thì các nhà quản lý sẽ có những biện pháp để điều chỉnh từ việc huy động vốn cũng như sử dụng vốn như thế nào và chính sách tín dụng ra sao để tối ưu hóa cấu trúc vốn và đồng thời tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp.2 Các nghiên cứu cho thay tác động tiêu cực của cấu trúc vốn đến kha năng sinh lời của các doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Cuibing Wu “(2019 cho thấy có sự tác động ngược chiều của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các công ty sản xuất ở Hoa Kỳ.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty sản xuất của Hoa Kỳ từ năm 2009-2018.