chương 1, TG tổng hợp và phân tích về các NC trước theo 3 dòng NC để làm rõ các mối quan hệ về tác động của QTLN đến CBTT BCTC, tác động của CB TT BCTC đến giá CP, tác động trực tiếp và gián tiếp của QTLN đến giá CP trên thế giới và tại VN. Đồng thời, tóm lược đưa ra nhận xét chung, hàm ý và kết luận từ các NC, từ đó nhận định khoảng trống NC và xác định vẫn đề cần NC.1 Tống quan các nghiên cứu trước đây Các NC trước đây đã công bố trên thế giới và tại VN có liên quan đến đề tài NC, TG sắp xếp lại thành ba dòng NC chính: e_ Tác động của QTLN đến CBTT BCTC. e Tac động của CBTT BCTC đến giá CP. e Tác động của QTLN đến giá CP.1 Tác động của quản trị lợi nhuận đến công bố thông tin báo cáo tài chính QTLN 1a hành vi mà các nhà quản trị tác động đến thông tin tài chính công bố của DN để đạt một số mục tiêu nhất định, được đo lường dựa trên hai phương pháp: cơ sở dồn tích — AEM (thông qua việc thay đổi các ước tính, lựa chọn phương pháp kế toán, đưới một số hình thức như: ổn định lợi nhuận, thao túng lợi nhuận, sảng tạo kế toán, làm đẹp BCTC, quản trị BCTC,.) và thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của DN — REM (thông qua việc thay đổi các chính sách sản xuất, kinh doanh, thời điểm ghi nhận doanh thu — chỉ phí của DN.
Từ thế kỷ 20, các chủ đề liên quan đến hành vi QTLN và CBTT đã thu hút nhiều sự quan tâm từ các nhà NC trên thế giới, khi hành vi này liên quan trực tiếp đến các vụ bê bối tài chính trong lịch sử được công bố bởi các cơ quan điều tra (như sự kiện Emron, 'WorldCom,. Các DN đã sử dụng hành vị QTLN để thao túng lợi nhuận và che giấu tình hình tài chính thực tế của DN. McNichols (2000) cho rang QTLN 1a mét trong những vấn đề quan trọng khi NC về BCTC. Trên thực tế, thông tin về lợi 10 nhuận và các yếu tố tạo nên lợi nhuận trong BCTC thường được dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của DN và được xem là trọng tâm trong kế toán.
CBTT là một trong những phương tiện giúp các nhà quản trị cung cấp, truyền tải các thông tin tài chính về tình hình hoạt động của DN. Tuy nhiên, các thông tin trên BCTC, đặc biệt thông tin về lợi nhuận có thê bị tác động từ các nhà quản tri nhằm đạt được kỳ vọng của NĐT, phục vụ cho lợi ích tổ chức, phúc lợi cá nhân, hay hoạt động thao túng giá CP.(Yadollah et al. Theo Shuli (2011), hành vi QTLN (hợp pháp hay không hợp pháp) đều có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng BCTC công bó. Một số vi phạm CBTT BCTC thường được đề cập trong các NC trước đây như: gian lận BCTC, chậm nộp BCTC, sai phạm BCTC, khai khống doanh thu, lợi nhuận, hàng tồn kho.
e_ Nghiên cứu trên thế giới: Shakhatreh et al. (2020) cho rằng để BCTC đạt chất lượng cao cần phải có nhiều yếu tố, một trong số đó là gia tăng các yêu cầu về CBTT và các quy định chặt chẽ trên thị trường chứng khoán. Theo TG, CL BCTC ngày càng trở nên quan trọng khi số lượt vi phạm CBTT ngày càng gia tăng theo báo cáo của UBCK quốc gia. Các NDT sé tim kiếm thông tin tài chính chất lượng cao vì nó giúp làm giảm bất cân xứng thông tin giữa DN và NĐT.
Tuy nhiên, chất lượng thông tin công bố không chỉ bị ảnh hưởng bởi chuẩn mực kế toán mà còn bởi các yếu tô khác có khả năng tác động đến nhu cầu và nguồn cung cấp thông tin tài chính (như quản trị DN, hệ thống pháp lý, quy định pháp luật về công bố, kiểm tra, giám sát thông tin và bảo vệ NDT. Theo Gupta and Kumar (2020), kế toán sáng tạo là một trong những hoạt động hợp pháp và được chấp nhận trên thế giới, nhưng vẫn có thê phạm tội khi lợi dụng các lỗ hỗng trong quy định pháp luật, gây tốn thất cho những người sử dụng thông tin BCTC để ra quyết định. Trong khi đó, NC của Khamainy et al. (2022) lại không cho thấy sự tồn tại về tác động của QTLN đến gian lận BCTC, từ dữ liệu của 60 DN sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán Indonesia trong khoảng thời gian 2015- 2019, khi áp dụng mô hình gian lận kim cương mới.
Trong đó, gian lận BCTC được 11 nhac dén 1a những gian lận sai sót trọng yếu do nhà quản trị thực hiện, gây tốn hại cho các NĐT, chủ nợ và được đo lường qua các v1 phạm CBÏTT. NC của Bangun (2019) từ 41 DN niêm yết trên sàn chứng khoán Indonesia trong khoảng thời gian từ 2015-2017, cho thấy rằng QTLN thông qua cơ sở dồn tích là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính kịp thời của công bố BCTC đã kiểm toán (thông qua việc chậm nộp báo cáo kiểm toán theo quy định). Dựa trên LT đại diện, TG cho rằng ban quản trị là đại diện trực tiếp và có quyền tiếp cận nhiều thông tin mật của DN, tạo nên sự bất cân xứng thông tin với các bên liên quan (NĐT, chủ nợ, Hội đồng quản trị,. CBTT kịp thời sẽ góp phần giảm thiêu bất cân xứng thông tin trên thị trường.
Do vậy, các DN nộp BCTC đúng hạn sẽ cung cấp nguồn thông tin kịp thời ra thị trường, làm cơ sở đánh giá và ra quyết định cho các NĐT. Tuy nhiên, các DN thực hiện hành vi QTLN cần nhiều thời gian hơn đề hoàn thành BCTC, nên sẽ làm chậm quy trình kiểm toán, dẫn đến việc chậm nộp BCTC đã kiểm toán hàng năm. NC của Katmon and Al-Farooque (2019) cũng dựa trên LT đại diện để phân tích về mối quan hệ giữa CL CBTT, tính độc lập của Hội đồng quản trị và QTLN. Theo TG, mối quan hệ giữa QTLN và CL CBTT rất đa dạng trong các NC trước đây.
Hướng NC đầu tiên cho rằng CL CBTT cao có thể giúp các NĐT nắm bắt thông tin tốt hơn và hạn chế hành vi QTLN của các nhà quản trị. Trong khi, hướng NC khác cho rằng CL CBTT cao có thể là yếu tố thúc đây các nhà quản trị thực hiện QTLN (để đáp ứng dự báo của các nhà phân tích). Các DN có QTLN cao có xu hướng CBTT cao hơn khi muốn công bồ về hiệu suất của DN. Một NC khác của Md Nasir et al.
(2018) từ 65 DN niêm yết trên TTCK Malaysia trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2008, cho thấy hành vi QTLN xảy ra ở các DN có gian lận BCTC nhiều hơn so với các DN không có gian lận BCTC trong khoảng thời gian bốn năm trước khi xảy ra gian lận. Ngoài ra, các DN có xu hướng thực hiện hành vi QTLN qua cơ sở đồn tích hơn hoạt động thực trong năm trước gian lận. Các gian lận BCTC được đo lường thông qua các vi phạm về CBTT (như chậm 12 trễ trong việc CBTT, không CBTT và gian lận kế toán). Theo TG, gian lận BCTC do hành vi QTLN của DN đã làm giảm độ tin cậy BCTC và niềm tin của NĐT vào TTCK, ảnh hướng đến việc ra quyết định của người sử dụng BCTC.
NC của Hasnan et al. (2014) từ 53 DN niêm yết tại Malaysia trong khoảng thời gian 1996-2007 cũng cho thấy rằng cơ câu quản trị DN yếu kém đã dẫn đến việc CBTT BCTC sai lệch ra công chúng. Các DN vi phạm đều có lịch sử phạm tội trước đó. Bazrafshan et al.
(2016) cho rằng các DN có nhiều Giám đốc độc lập, Hội đồng quản trị làm việc hiệu quả sẽ làm giảm hành vi QTLN vì mục đích cá nhân và gia tăng mức độ CBTT. Cụ thể, CBTT sẽ trở nên hiệu quả hơn sau khi Hội đồng quản trị kiểm soát quyền lực của Giám đốc điều hành và hạn chế các hành vi QTLN. Điều này tương tự với NC của Kanagaretnam et al. NC của Wolo-WIlliams (2011) với dữ liệu từ 82 DN trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016 cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa QTLN và tội phạm cổ côn trắng (thông qua các vi phạm về quy định được công bố qua cơ sở đữ liệu từ UBCK và giao dịch Mỹ).
Trong đó, tội phạm cỗ côn trắng (White-Collar) được đề cập là khái niệm về các tội phạm kinh tế ở vị trí như giám đốc điều hành, lãnh đạo cấp cao khi dùng quyền lực của mình để đạt được các lợi ích cá nhân). Các cuộc điều tra bởi SEC (UBCK và giao dich MY) chi ra rang QTLN và tội phạm cô côn trăng là những chỉ báo hàng đầu về gian lận BCTC. Các khoản dồn tích có thể điều chỉnh và hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém chính là các yếu tố tạo ra gian lận, là chỉ số để đánh giá BCTC của DN và là nguyên nhân cho thấy sự gia tăng các vụ bê bối tài chính của các DN trên thị trường tài chính. Một số hậu quả có thê gây ra bởi gian lận BCTC như: giá CP giảm dần, các NDT pha san, mắt việc, thiếu niềm tin vào TTCK.
Trong đó, QTLN là yếu tố gây ra các gian lận BCTC và thường được thực hiện bởi các nhà quản trị đứng đầu DN. NC khác của Jans et al. (2005) đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa CL CBTT, ổn định lợi nhuận và tính kịp thời của lợi nhuận. Kết quả NC từ 37 DN (1997-2002) tại Bỉ cho thấy rằng các DN có CL CBTT cao sử đụng các khoản đồn tích để làm tăng lợi 13 nhuận nhiều hơn ở các DN có CL CBTT thấp.
Tuy nhiên, trong những năm có thông tin tốt, các DN thực hiện hành vi QTLN nhiều hơn có CL CBTT cao hơn so với DN có CLCBTT thấp. Các DN có CL CBTT thấp cho thấy sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin kịp thời. NC của Mouselli et al. (2012) cũng cho rằng cac DN co CL CBTT cao hon it thực hiện hành vi QTLN hơn.
NC của Cohen et al. Kết quả cho thay rang QTLN ting dang ké trong giai đoạn trước khi ban hành SOX và giảm dang ké trong giai doan sau d6. Tibbs (2003) da tim hiéu vé kha nang phat hién va dự đoán gian lận kế toán của mô hình QTLN. Kết quả cho thấy rang QTLN qua cơ sở dồn tích có sự khác biệt giữa các năm có gian lận kế toán và không có gian lận kế toán.
Các gian lận kế toán được đề cập là các công bố vi phạm về quy định, chuẩn mực kế toán ban hành.