Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu cũng như lý do cần thiết khi thực hiện đề tài này. Ngoài ra trong chương này cũng đề ra mục tiêu cần đạt được của bài nghiên cứu và những đóng góp thiết thực mà đề tài mang lại. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu Chương này mang nội dung cơ bản của luận văn, trình bày cơ sở lý thuyết về Quản trị công ty và hiệu quả doanh nghiệp, dựa trên những mô hình tham khảo để đưa ra mô hình nghiên cứu Ảnh hưởng của quản trị công ty lên hiệu quả doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, đúc kết mô hình nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thức chọn mẫu và cách đo lường các tiêu chuẩn. Chương 4: Phân tích kết quả Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu định lượng với việc mô tả dữ liệu thu thập được, phân tích mối tương quan của các biến trong mô hình nghiên cứu, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu cũng như kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu đã đề ra.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này sẽ tóm tắt kết quả nghiên cứu chính của luận văn và đưa ra những đóng góp quan trọng từ nghiên cứu này cũng như những đề xuất và kiến nghị. 16 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở khoa học thực tiễn, lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài.1 Khái niệm về quản trị công ty Quản trị công ty có nhiều định nghĩa do cách tiếp cận khác nhau cũng như do nó bao hàm nhiều hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh. Quản trị công ty cổ phần, gọi tắt là quản trị công ty, là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát công ty cổ phần. Quản trị công ty cũng bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ công ty cổ phần như các cổ đông, ban giám đốc điều hành, hội đồng quản trị mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài công ty: cơ quan quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng, xã hội.
Cơ chế này được xây dựng và liên tục cải tiến chính vì nhu cầu bức bách đối với sức khỏe của công ty cổ phần và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Quản trị công ty là một lĩnh vực kinh doanh học nghiên cứu cách thức khuyến khích quá trình quản trị kinh doanh hiệu quả trong các công ty cổ phần bằng việc sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, cấu trúc tổ chức và quy chế - quy tắc. Quản trị công ty thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, những cách thức nào mà người chủ sở hữu doanh nghiệp khuyến khích các giám đốc của họ sử dụng để đem lại hiệu suất đầu tư cao hơn. Quản trị công ty là cách thức mà các nhà cung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư đảm bảo thu được lợi tức từ các khoản đầu tư của họ (Shleifer, A.
Quản trị công ty là hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty cổ phần như 17 Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. Quản trị công ty cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành công ty. Bằng cách này, Quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc.
(OECD, 1999,2004) Quản trị công ty nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng doanh nghiệp, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm. Quản trị công ty là chủ đề mặc dù được định nghĩa không rõ ràng nhưng có thể coi như đó là tập hợp các đối tượng, mục tiêu và thể chế để đảm bảo điều tốt đẹp cho cổ đông, nhân viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩy danh tiếng, vị thế của nền kinh tế. (Maw và cộng sự, 1994) Trong khoảng thời gian cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, việc bảo vệ lợi ích của cổ đông trong việc thực thi các quyền sở hữu công ty và làm gia tăng giá trị cổ phần của họ, trách nhiệm của người quản lý, điều hành công ty, vấn đề hài hoà lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty đã trở thành chủ đề tranh luận tại Mỹ và khắp nơi trên thế giới dù thuật ngữ “Quản trị Công ty” vẫn chưa chính thức xuất hiện. Mặc dù vấn đề Quản trị Công ty đã được đề cập tới trong suốt một thời gian dài của những thập niên đầu thế kỷ XX như vậy nhưng theo John Farrar, khái niệm “Quản trị Công ty” chỉ chính thức xuất hiện lần đầu tiên khoảng 50 năm trước đây bởi tác giả Richard Walls trong cuốn sách “The Governance of Corporations”.
John Farrar cho rằng, khái niệm quản trị - governance là một thuật ngữ có nguồn gốc từ ngôn ngữ La tinh, xuất phát từ từ “gubernare” và từ “gubernator” với nghĩa chỉ bánh lái của một con tàu và thuyền trưởng con tàu đó (Farrar, 2008). Người ta hình dung Corporate - Công ty như một con tàu cần phải được lèo lái để cập bến thành công với thuyền trưởng và thủy thủ là những người điều hành và người lao động. Công ty là của chủ sở hữu (cổ đông) nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT, sự điều hành của Ban Giám đốc và sự đóng góp của người lao động, mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Do đó, cần có một cơ chế 18 điều hành và kiểm soát để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
Thực tế không có mô hình quản trị công ty tốt duy nhất. OECD đã xây dựng một bộ nguyên tắc về quản trị công ty dựa trên các yếu tố chung để bao quát các mô hình khác nhau làm nền tảng cho quản trị công ty tốt. Bộ nguyên tắc này bao gồm các yếu tố: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả; quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính; đối xử bình đẳng đối với cổ đông; vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; công bố thông tin và tính minh bạch; trách nhiệm của HĐQT.2 Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Khái niệm về hiệu quả hoạt động là một chủ đề gây tranh cãi trong tài chính bởi do ý nghĩa rộng lớn của nó. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996).
Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức. Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu và thị phần, cho một định nghĩa rộng hơn về hiệu quả hoạt động. Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường vốn.
Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao thì đo lường hiệu quả hoạt động theo thị trường sẽ không cho kết quả tốt. Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là ROA và ROE hay lợi nhuận trên đầu tư ROI. Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng (Demsetz và Lahn, 1985), (Gorton và Rosen, 1995), (Mehran, 1995), (Ang và cộng sự, 2000). 19 Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, như là giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (M/B), và chỉ số Tobin’s Q.
Hiệu quả hoạt động đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất.3 Các yếu tố tác động lên hiệu quả doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động là chỉ tiêu rất quan trọng trong một doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu khoa học hai chỉ tiêu này được đo lường bằng nhiều cách khác nhau. Hiệu quả tài chính bao gồm: tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần, lợi nhuận biên, thu nhập cổ phần thường, thị giá cổ phiếu, tăng trưởng doanh thu. Hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi thị phần, tần suất giới thiệu sản phẩm mới và sáng chế, chất lượng hàng hóa/dịch vụ, năng suất lao động, mức độ hài lòng, và duy trì lực lượng lao động.
Hiệu quả tổng hợp thường bao gồm uy tín, khả năng tồn tại, mức độ đạt được mục tiêu, so sánh với đối thủ cạnh tranh. Để đo lường giá trị doanh nghiệp (Brown và Caylor, 2003) đã sử dụng Tobin’s Q là biến đại diện cho giá trị doanh nghiệp. Hệ số Tobin’s Q được đo lường bằng tỷ số giữa giá trị thị trường và giá trị thay thế của một tài sản hữu hình. Hệ số này được tác giả James Tobin phát triển vào năm 1969.
Trong nghiên cứu của (Sami và Zhou, 2011) tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ số thu nhâp trên vốn cổ phần (ROE) được sử dung làm biến đại diện cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.1 Tác động của Quy mô doanh nghiệp lên hiệu quả của doanh nghiệp Qui mô của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng logarit của tài sản hoặc logarit của doanh thu. Qui mô doanh nghiệp khác nhau dẫn đến những yếu tố ảnh hưởng lên nó cũng khác nhau.