CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu quốc tế liên quan tới đề tài luận án 1.1 Các nghiên cứu lý thuyết Từ phương diện lý thuyết, tác động của phát triển tài chính đến bất bình đẳng thu nhập đã được nghiên cứu và cơ bản được phân loại thành hai trường phái (hay quan điểm) chính dựa trên các công trình của Greenwood và Jovanovic [54] về giả thuyết phi tuyến; và của Galor và Zeira [60], Banerjee và Newman [29] về giả thuyết tuyến tính. Đây cũng là các công trình nghiên cứu đặt ra cơ sở khoa học ban đầu cho việc triển khai các nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia và nhóm quốc gia trên thế giới. Về giả thuyết tuyến tính, Galor và Zeira [59] đã đề xuất một mô hình hai thế hệ nối gối nhau (overlapping generation model), tập trung vào tác động của hệ thống tài chính thông qua tạo ra cơ hội đầu tư vào vốn con người. Hệ thống tài chính hình thành và phát triển dần xóa đi những rào cản về tài sản để tạo ra cơ hội tiếp cận các nguồn lực tài chính cho người nghèo đầu tư vào nâng cao vốn con người, để sau đó làm việc trong ngành sản xuất sử dụng lao động có kỹ năng với thu nhập cao hơn.
Tương tự là mô hình lý thuyết của Banerjee và Newman [36], ngoại trừ điểm khác biệt phát triển tài chính tác động tới khả năng vay vốn để phát triển các dự án đầu tư kinh doanh hay phát triển doanh nghiệp của các cá nhân. Vì sự không hoàn hảo của thị trường tài chính, những người không đáp ứng yêu cầu về một lượng tài sản nắm giữ tới một ngưỡng nào đó không thể vay vốn, do đó không thể theo đuổi dự án đầu tư, và buộc phải lựa chọn công việc làm thuê, có thu nhập thấp. Về sau, Canavire-Bacarreza and Rioja [33] củng cố thêm luận điểm này, cho rằng các nhà doanh nghiệp là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn hơn cả do sự không hoàn hảo của thị trường tài chính bởi họ thiếu hoặc không có tài sản thế chấp và không có lịch sử tín dụng tốt. Banerjee và Duflo [141] cũng nêu những lập luận tương tự, cho rằng một trong những lý do khiến các nước nghèo không thể hội tụ về mức thịnh vượng của các nước giàu là do 11 đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế nguồn lực tài chính.
Do đó, các luận điểm này cung cố thêm dự báo của các giả thuyết tuyến tính dự báo rằng hệ thống tài chính vận hành hiệu quả sẽ tác động mạnh tới tăng trưởng thu nhập của nhóm người nghèo, qua đó làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Về giả thuyết phi tuyến, dựa trên lý luận nổi tiếng của Simon Kuznets [75] về quan hệ theo hình chữ U ngược (inverted U-shaped) giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập, Greenwood và Jovanovic [61] phát triển một khung khổ lý thuyết giải thích tác động của phát triển tài chính đến bất bình đẳng thu nhập thông qua cơ chế tác động tới cơi hội tham gia vào các dự án đầu tư mạo hiểm trên thị trường tài chính. Theo đó, trước khi hệ thống tài chính xuất hiện, việc huy động và phân bổ vốn đầu tư không hiệu quả, nên tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức khiêm tốn. Khi hệ thống tài chính ra đời, nó thực hiện chức năng đa dạng hóa các danh mục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để quan lý rủi ro đầu tư cũng như giảm thiểu các rủi ro mang tính đặc thù của từng dự án, mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, chỉ những người có một lượng tài sản đủ lớn mới có thể tham gia vào các dự án đầu tư trên hệ thống tài chính. Do đó, Greenwood và Jovanonic cho rằng, vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển, sự mở rộng hệ thống tài chính làm thay đổi trạng thái phân phối thu nhập theo hướng có lợi hơn cho người giàu. Beck và cộng sự [38; 39] cũng có chung quan điểm, cho rằng vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các chi phí sử dụng dịch vụ tài chính nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro đầu tư và thu được lợi nhuận trên thị trường tài chính là quá cao và ngoài khả năng đáp ứng của người nghèo. Các lập luận tương tự cũng được nêu trong các nghiên cứu của Behrman et al.
Sau đó, vào giai đoạn phát triển bão hòa, hầu hết mọi cá nhân đều có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính và tham gia đầu tư trên hệ thống tài chính, khoảng cách thu nhập bắt đầu giảm xuống. Mặc dù hai quan điểm lý thuyết vừa nêu trên được sử dụng phổ biến như là cơ sở ban đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm cho tới hiện nay, nhưng trong quá trình phát triển của khoa học kinh tế nói chung và chuyên ngành về kinh tế 12 học tài chính - tăng trưởng - bất bình đẳng nói riêng, nhiều quan điểm và luận điểm mang tính lý thuyết khác đã xuất hiện dựa trên quan sát thực tế. Các quan điểm này hoặc củng cố, hoặc bổ sung thêm các luận điểm trong các lý thuyết của ba nhóm học giả nêu trên, và cùng với các lý thuyết đó cấu thành một hệ thống lý luận đa dạng về nhận thức tác động của phát triển tài chính đến bất bình đẳng thu nhập. Hệ thống lý luận này bao gồm, nhưng không giới hạn, các quan điểm của các học giả sau đây.
Demirguc-Kunt và Levine [51] cho rằng phát triển tài chính ảnh hưởng tới một chừng mực nào đó mà cơ hội kinh tế của các cá nhân được quyết định bởi kỹ năng và sự sáng tạo của người đó, hoặc là sự giàu có của cha mẹ, vị thế xã hội, hay các liên kết chính trị. Nghĩa là, phát triển tài chính tác động khác nhau tới những người có thể hay không thể tiến hành: tạo lập một công việc, chi trả cho giáo dục, thực hiện khát vọng làm kinh tế. Trong điều kiện thị trường tài chính không hoàn hảo, theo các lập luận của Jacoby và Skoufias [68], Baland và Robinson [34], Swinnerton và Rogers [115], hay Ranjan [106], khi xảy ra các cú sốc về thu nhập, nếu các gia đình nghèo không có khả năng chống chịu các cú sốc này cũng như không thể vay để đảm bảo chi tiêu cơ bản, họ sẽ phải dừng đầu tư giáo dục cho con cái, đưa chúng tham gia vào làm các công việc có thu nhập thấp. Còn theo Aghion và Bolton [25], nếu thị trường tài chính chỉ cho vay với những người đáp ứng các yêu cầu về tài sản thế chấp hơn là cho những người có ý tưởng kinh doanh sáng tạo và hiệu quả nhất, thì các hộ nghèo sẽ tiếp tục nghèo.
Sau đó, Demirguc-Kunt và Levine [51] phát triển một khung khổ lý thuyết tổng quát hơn nhằm giải thích mối quan hệ tài chính - bất bình đẳng. Theo hai nhà nghiên cứu này, thu nhập của mỗi cá nhân đến từ hai nguồn cơ bản là tiền lương và thu nhập từ tài sản. Tiền lương được quyết định bởi vốn con người, và vốn con người lại được quyết định bởi hai yếu tố: khả năng bẩm sinh và đầu tư cho giáo dục. Vốn con người của một người khi còn trẻ sẽ không phụ thuộc vào lượng tài sản của bố mẹ của người đó một khi việc tiếp cận vốn vay trên hệ thống tài chính là dễ dàng.
Do đó, phát triển tài chính tác động tới phúc lợi xã 13 hội thông qua cơ chế tạo ra cơ hội đầu tư vốn con người của thế hệ trước cho thế hệ sau. Tuy nhiên, mô hình này không kết luận cụ thể mối quan hệ tài chính - bất bình đẳng là tuyến tính hay phi tuyến. Dù có quan điểm như thế nào, các lập luận của các học giả nêu trên đều dự báo bất bình đẳng thu nhập trong dài hạn sẽ giảm xuống khi hệ thống tài chính phát triển đến mức cho phép mọi cá nhân trong nền kinh tế đều có thể tiếp cận một cách dễ dàng. Tuy nhiên, cũng có không ít các quan điểm ngược lại.
Hệ thống tài chính chính thức càng phát triển, về cơ bản, mang lại nhiều hơn ích hơn cho người giàu (theo Rajan và Zingales [107]). Ngoài việc người nghèo thiếu tài sản bảo đảm hay mối liên hệ xã hội với giới chức chính trị và có quyền lực, Perotti [101] và Claesense [47] bổ sung thêm nguyên do phát triển tài chính có thể làm tăng bất bình đẳng. Lập luận cụ thể như sau: người nghèo thường là những người có ít điều kiện nâng cao trình độ giáo dục, trong khi các tổ chức tài chính không muốn cho vay tới những người có trình độ thấp bởi đơn giản là họ không tin tưởng và cũng như không biết về khả năng sử dụng vốn có hiệu quả hay không. Do vậy, ngay cả khi vốn tín dụng là rất rồi rào và lãi suất ở mức hợp lý, người nghèo cũng khó có thể tiếp cận được.
Galor và Moav [51] mô tả mối quan hệ bộ ba tài chính - tăng trưởng - bất bình đẳng với quan tâm hướng vào quá trình tích lũy vốn con người và vốn vật chất, trong đó đưa ra hai giả định cơ bản: (i) xu hướng tiêu dùng cận biên tăng theo thu nhập, và (ii) suất sinh lợi của tích lũy vốn vật chất lớn hơn suất sinh lợi của vốn con người trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, điều ngược lại xảy ra và các giai đoạn phát triển sau. Vì thế, trong giai đoạn phát triển ban đầu, bất bình đẳng tăng lên do sự chuyển hướng các nguồn lực vào các cá nhân có khuynh hướng tiết kiệm cao hơn. Trong giai đoạn này, phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng cũng sẽ có xu hướng làm tăng bất bình đẳng. Từ một góc độ khác, lý thuyết thẩm thấu trong môi trường có sự hoạt động của hệ thống tài chính do Aghion và Bolton [25] đề xuất năm 1997 gợi ý rằng khi tốc độ tích lũy tư bản ở mức cao, về dài hạn bất bình đẳng hội tụ về một 14 mức ổn định.
Tuy nhiên, trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tài sản tích tụ của nhóm giàu nhất có thể thẩm thấu sang các nhóm khác chỉ khi thông qua việc thu nhập dư thừa của nhóm này được cho vay trên thị trường vốn, nhưng nhóm nghèo nhất có thể cũng đóng vai trò là bên cho vay và hưởng khoản lãi suất do họ không thể gánh được các chi phí giao dịch liên quan tới vay vốn. Và như thế thu nhập của nhóm nghèo nhất có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các nhóm giàu hơn, khoảng cách thu nhập có thiên hướng doãng ra.