Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp XKNS Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Định hướng và đề xuất giải pháp đối với nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của DN XKNS Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE NHÂN TO ANH HUONG DEN HOẠT DONG XUẤT KHẨU NONG SAN CUA DOANH NGHIEP XUAT KHAU NONG SAN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước Có rat nhiêu công trình trong nước đã thực hiện nghiên cứu vê các vân đê liên quan đên xuât khâu nông sản ở Việt Nam trên các khía cạnh khác nhau như: a) Nghiên cứu về xuất khẩu nông sản ở Việt Nam Xuất khẩu là phương thức kinh doanh phô biến trên thị trường quốc tế, hệ số TỦI TO thấp, đòi hỏi nguồn lực không cao, có tính linh hoạt cao Uner và cộng sự (2013). Xuất khẩu là hình thức hoạt động kinh tế lâu đời nhất của Leonidou và cộng sự (2010).
Nguồn gốc lý thuyết của xuất khẩu lần đầu tiên được đề cập bởi Adam Smith trong, nghiên cứu “Nguồn gốc của sự giảu có” (1776); với lý thuyết lợi thế tuyệt đối, tiếp sau đó được phát triển bởi Richardo (1817) với lý thuyết lợi thế so sánh, các yêu tố sản xuất sản của Ohlin (1933) và Heckesckler (1950), hay vòng đời sản phâm Vernon (1966). Những lý thuyết này cung cấp những hiểu biết hữu ích để giải thích các hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia và cung cấp cơ sở cho tư duy kinh doanh quốc tế Leonidou và cộng sự (2010). Nông sản vẫn luôn là ngành phát triển mũi nhọn của kinh tế Việt Nam, xuất khẩu nông sản là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm. Nghiên cứu về XKNS của Việt Nam hiện nay cũng đã được chú ý đến, những nghiên cứu về XKNS của Việt Nam có: Hoàng Tuyết Minh (2000) Chính sách và giải pháp đây mạnh xuất khẩu sản phẩm và xuất khẩu hàng nông sản ở đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sĩ kinh tế sử dụng nguồn số liệu thứ cấp nghiên cứu về giải pháp đây mạnh xuất khâu nông sản.
Trong đó tác giả phân tích lợi thế sản phâm xuất khẩu rau quả Việt Nam, tìm hiểu kinh nghiệm thành công của một số nước trong lĩnh vực sản xuất - chế biến - xuất khâu nông sản. Trong nghiên cứu của mình, tác giả phân tích thực trạng hệ thống chính sách, cơ chế tác động tới hoạt động xuất khẩu nông sản như đất đai, chính sách phát triển thị trường xuất khâu, đầu tư, vốn và tín dụng. Nghiên cứu cũng đề xuất quy hoạch vùng nguyên liệu gắn liền với công nghệ sau thu hoạch, hệ thống tiêu thụ; mở rộng thị trường xuất khẩu; phát triển nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu. Trần Khắc Thi (2000) với Phát triển sản xuất cà chua trong xu thế cạnh tranh ASEAN đã tập trung nghiên cứu mặt hàng nông sản, cụ thể là cà chua.
Tác giả phát hiện ra cà chua Việt Nam có một sỐ những đặc điểm nhất định và có tính cạnh tranh trong thị trường ASEAN như: năng suất cà chua Việt Nam khá cao, chất lượng sản phẩm được đánh gia cao về trọng lượng, mau sắc, độ ngọt. từ đó đánh giá khả năng xuất khẩu của mặt hàng này là rất khả thi, trước mắt tác giả đề xuất nên tăng cường xuất khẩu sang thị trường ASEAN; sau đó tiễn đến xuất khâu sang một số thị trường khó tính hơn trên thế giới như Nhật, Chau Âu. Dé làm việc này, tác giả có đề xuất một số giải pháp giúp mặt hàng này tăng khả năng cạnh tranh hơn như có định hướng rõ ràng về thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng cà chua, đáp ứng những yêu cầu về dư lượng thuốc trừ sâu trong sản phẩm. Ngô Thị Tuyết Mai (2007) nghiên cứu về Mức độ cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn 1996-2006.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích ngành sản phẩm, phương pháp phân tích kinh doanh nhằm phân tích các vẫn đề lý luận, thực tiễn một cách có hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng. nông sản xuất khâu chủ yếu của Việt Nam như gạo, cà phê, chè, cao su. chỉ ra răng Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển một số mặt hàng nông sản phục vụ cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra năng lực cạnh tranh của ngành XKNS Việt Nam còn thấp do chất lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại đơn điệu, mẫu mã chưa phong phú, từ đó dé ra 8 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Trong một nghiên cứu khác của Nguyễn Minh Sơn (2010) về thúc day xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam giải đoạn 1995- 2008. Bằng phương pháp thống kê, tổng hợp tác giả đưa ra một số những khuyến nghị về tình hình xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đến năm 2020. Tác giả đưa ra lý luận về xuất khâu sản phẩm nông nghiệp và thực trạng xuất khâu nông sản của Việt Nam, chỉ ra kết qua đạt được, điểm yéu và điểm mạnh trong quá trình phát triển sản xuất và xuất khẩu nông sản.
Tác giả cũng đưa ra quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm đây mạnh xuất khâu sản phẩm nông nghiệp nước nhà. Tác giả Định Văn Thành (2010) với nghiên cứu Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cau trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước đã phân tích về năng lực tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu của sản phẩm nông nghiệp Việt nam nói chung va tập trung vào 09 mặt hàng nói riêng. Đề tài chỉ ra được điểm hạn chế cũng như những ưu điểm của nông sản Việt nam khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Từ đó đề xuất nhóm các giải pháp chung và giải pháp riêng cho sản phẩm nông sản của Việt Nam nói chung và 09 sản phẩm trong nghiên cứu nói riêng.
Dé tài đã thu được những kết quả nhất định như đã hệ thống hóa lý luận về chuỗi giá trị toàn cầu của nông sản; đặc điểm hay mô hình của chuỗi giá trị sản phẩm nông sản, các điều kiện tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; nội hàm và các tiêu chí xác định năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, dé tai cũng tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệp của một số quốc gia điển hình trên thế giới trong việc đây mạnh khả năng tham gia và chuỗi giá trị nông sản trên thế giới để xây dựng một khung phân tích chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu làm cơ sở lý thuyết để phân tích các chuỗi giá trị hàng nông sản cụ thé. Vũ Thanh Hương, Vũ Phương Thảo (2011) với bài Đánh giá cơ hội XKNS Việt Nam sang thị trường các nước vùng vịnh, đã đánh giá về cơ hội XKNS Việt Nam sang thị trường các nước vùng vịnh, nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về xuất khẩu, cụ thể hơn nữa là những số liệu thực tế về hoạt động xuất khâu gạo từ góc nhìn của các nước nhập khâu vùng vịnh và quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước vùng vịnh với Việt Nam và thế giới. Bài viết đã phân tích thực trạng XKNS của Việt Nam sang thị trường các nước vùng vịnh theo 6 nhóm hàng chính trong giai đoạn 2006-2009, đánh giá cơ hội XKNS của Việt Nam sang thị trường các nước vùng vịnh dưới hai góc độ: (i) cơ hội từ phía thị trường nay; (ii) cơ hội từ phía thi trường Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp đây mạnh XKNS sang thị trường các nước vùng vịnh.
Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Dũng (2012) Xuất khẩu gạo của Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO: thực trạng và giải pháp đã nghiên cứu về tình hình xuất khẩu gạo sau khi gia nhập WTO của Việt Nam. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê nghiên cứu đã chỉ ra được một số vấn đề về tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam như: giá cả còn thấp, chất lượng chưa được đánh giá cao, vì vậy phân khúc thị trường gạo của Việt Nam vẫn ở tầm thấp, mặc dù khối lượng gạo có tăng sau 5 năm gia nhập WTO. Từ kết quả của thực trạng, nhóm tác giả đã đưa 3 nhóm giải pháp nhằm thúc đây xuất khẩu gạo trong thời gian tới, cụ thể nhóm giải pháp cho sản xuất, bảo quản và chế biến gạo; nhóm “giải pháp nhằm đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường xúc tiến thương mại; và cuối cùng nhóm giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh lúa gạo Việt Nam. Nghiên cứu của hai tác giả nêu trên là một trong những nghiên cứu rat cụ thé đối với mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nông sản Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Thành Trung (2012) với Thực trạng phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam và dự báo đến năm 2015 đã đưa ra nhận định về tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2006-2010. Trong giai đoạn nghiên cứu này tác giả chỉ ra được tình hình xuất khẩu của ngành nông nghiệp của Việt Nam có xu hướng tăng trưởng mạnh, đặc biệt là các sản phẩm có thế mạnh của ngành nông nghiệp như thủy sản, gạo, cao su, chè. Từ việc phân tích chuyên sâu vào các ngành cụ thể, nghiên cứu chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam như việc tiếp cận các khoản vay khó khăn của doanh nghiệp, hay việc nguyên liệu đầu vào luôn bị ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng bị động của doanh nghiệp sản xuất và xuất khâu, hay chi phi logistic của Việt Nam được đánh giá là cao hơn 20% so với các quốc gia trong khu vực cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khâu của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Từ những kết luận được tìm ra trong nghiên cứu, tác giả đưa ra một số chính sách dé thúc đây xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời gian tới.
Trần Thanh Hải (2013), trong nghiên cứu Giải pháp nhằm da dạng hoá thị trường xuất khẩu để nâng cao hiệu quả xuất khẩu nhóm hàng nông sản của Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Bộ.