Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến nhập khẩu hàng hóa Chương 3: Phân tích thực trạng ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu băng dính từ thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH sản xuất và xuất nhập khẩu Thanh Tú Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất với ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu băng dính từ thị trường Trung Quốc của Công Ty TNHH sản xuất và xuất nhập khẩu Thanh Tú 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Môi trường kinh doanh quốc tế - Môi trường kinh doanh: Theo PGS. Hoàng Minh Đường và PGS.
Nguyễn Thừa Lộc (2005), trường Đại học Kinh tế Quốc dân “Môi trường kinh doanh là tập hợp các yếu tố liên quan chặt chẽ với các hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố này có ảnh hưởng bên trong hoặc bên ngoài đối với kết quả, hiệu suất và tăng trưởng của công ty”. Môi trường kinh doanh có thể được phân chia trong cả môi trường vĩ mô và vi mô dựa trên quan điểm: một môi trường vĩ mô thường được liên kết với các yếu tố ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp bất kể ngành nghề hoặc quy mô của họ; còn môi trường vi mô được gọi là không khí cạnh tranh kinh doanh, bao gồm các đối thủ, khách hàng và nhà cung cấp. - Kinh doanh quốc tế: Theo PGS.
Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga (2021), Trường Đại học Thương mại, “Kinh doanh quốc tế (international business), hiểu đơn giản, là việc thực hiện hoạt động đầu tư vào sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi có liên quan tới hai hay nhiều nước và khu vực khác nhau”. - Môi trường kinh doanh quốc tế: Cũng theo PGS. Doãn Kế Bôn, TS.
Lê Thị Việt Nga (2021), “Môi trường KDQT là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hoá,. Những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức, và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh”. Trong bài nghiên cứu này tập trung phân tích bốn môi trường KDQT, đó là: môi trường chính trị, môi trường pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa. Hoạt động nhập khẩu - Nhập khẩu: 5 Theo quy định của Khoản 1 Điều 28 Luật thương mại 2005, “Nhập khẩu hàng hóa có thể hiểu là hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm ở khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam”.
Nhập khẩu không phải hoạt động buôn bán riêng lẻ mà là hệ thống có tổ chức, việc nhập khẩu của quốc gia phụ thuốc vào thu nhập và tỷ giá hối đoái. Thu nhập bình quân của người dân nước đó tăng thì nhu cầu nhập khẩu lớn, tỷ giá hối đoái cao thì giá hàng nhập khẩu cao hơn. - Phân loại các hình thức nhập khẩu: Cũng theo PGS. Doãn Kế Bôn, TS.
Lê Thị Việt Nga (2021), trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế khi thực hiện hoạt động nhập khẩu thường sử dụng hai hình thức nhập khẩu chính là nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu ủy thác. + Nhập khẩu trực tiếp: là việc doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa hay nguyên vật liệu từ thị trường nước ngoài vào trong nước với chi phí và danh nghĩa của mình rồi sau đó phân phối hàng hóa nhập khẩu này đến những khách hàng có nhu cầu trong nước. + Nhập khẩu ủy thác: là doanh nghiệp ủy thác cho một đơn vị trung gian làm cầu nối thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào trong nước. Với cách thức này, đơn vị trung gian sẽ thực hiện các công việc được giao với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phi của bên ủy thác giao cho.
Sản phẩm băng dính Băng dính hay còn gọi là băng keo là dòng sản phẩm có tính chất kết dính, dung để liên kết các vật lại với nhau, băng dính không chỉ sử dụng để đóng gói hàng hóa mà còn sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như trong ngành điện tử công nghiệp hay trong văn phòng phẩm. Cấu tạo của băng dính là sự kết hợp của lớp màng nhựa (màng film BOPP, PVC.) và cung với lớp keo. Sự kết hợp này được gọi là quá trình tráng keo, quá trình này nếu có kỹ thuật tốt sẽ tạo ra sản phẩm có độ kết dính cao. Ngoài ra, chất lượng băng dính còn phụ thuộc vào các nguyên liệu màng nhựa và lớp keo.
Băng dính có nhiều tiêu chuẩn phân loại khác nhau theo kích cỡ, công dụng, chất dính,. Một số lý thuyết về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp 2. Môi trường chính trị 2. Khái niệm môi trường chính trị - Hệ thống chính trị trên thế giới: Hệ thống chính trị là khái niệm dung để chỉ một chính thể bao gồm các tổ chức như đẳng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố độ trong việc thay như đang chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp): với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tổ đỏ trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thì các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội (PGS.
Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga (2021)). + Chế độ chuyên chế: là chế độ chính trị trong đó Nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội + Chế độ XHCN: Chính phủ kiểm soát những phương tiện cơ bản của việc sản xuất, phân phối và hoạt động thương mại. Chế độ XHCN trên hầu hết các quốc gia hiện nay đều được thể hiện dưới hình thức XHCN (Việt Nam, Trung Quốc,.) + Chế độ dân chủ: có hai đặc trưng cơ bản: Quyển sở hữu tư nhân (chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân); Quyền lực có giới hạn của Chính phủ (chính phủ chỉ thực hiện một số chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân: bảo vệ quốc phượng, duy trì pháp luật, trật tự xã hội).
Ảnh hưởng của môi trường chính trị đến hoạt động KDQT Môi trường chính trị có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Tác động này có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực mà các doanh nghiệp gọi là rủi ro chính trị. Rủi ro chính trị là khả năng hoạt động của chính phủ mang lại những kết quả không mong muốn cho doanh nghiệp như quốc hữu hỏa tải sản đầu tư, hay các quy định chính sách hạn chế các hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường, một nước được coi là bất ổn, hay có mức độ rủi ro chính trị cao nếu như chính phủ dễ bị thay đổi, có bất ổn xã hội, có bạo loạn, cách mạng nổi dậy hay chiến tranh, khủng bố,.
Các doanh nghiệp thường ưu tiên các quốc gia ổn định và 7 có ít rủi ro chính trị, thu nhập của doanh nghiệp cần được tính toán trên cơ sở của các rủi ro. Đôi khi có những doanh nghiệp vẫn phải kinh doanh tại các quốc gia có các rủi ro tương đối cao. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp sẽ quản trị và kiểm soát rủi ro thông qua bảo hiểm, quyền sở hữu và quản trị doanh nghiệp, kiểm soát cung ứng và thị trưởng, chương trình hỗ trợ tài chính. Nhìn chung, khi môi trường chính trị mang tỉnh ổn định sẽ là nhân tố thuận lợi thúc đẩy tốt các hoạt động kinh doanh quốc tế.
Sự bình ổn của hệ thống chính trị thể hiện trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó. Các thể chế binh ổn và không có xung đột tạo điều kiện hài hòa hóa chính sách và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế. Ngược lại khi môi trường chính trị không ổn định, không lành mạnh.
sẽ dẫn đến các rủi ro và tác động bất lợi trong việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp. Một xã hội càng rối loạn, hay càng tiềm ẩn những bất ổn ngay trong lòng thì nguy cơ rủi ro về chính trị gặp phải ngày càng cao. Những bất ổn xã hội biểu hiện rõ ràng dưới hình thức của các cuộc bãi công, biểu tình, khủng bố, và những xung đột vũ lực. Nhiều khả năng chúng có thể diễn ra tại các quốc gia đa sắc tộc, nơi có các hệ tư tưởng đấu tranh lẫn nhau để giành lấy quyền lực chính trị, hoặc là ở những nền kinh tế cơ chế quản lý kém, lạm phát cao, tiêu chuẩn cuộc sống thấp.
Thay đổi trong thể chế chính trị có thể dẫn đến việc ban hành những điều luật ít thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế. Do đó việc nghiên cứu về hệ thống chính trị tại các quốc gia liên quan đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều rất cần thiết. Môi trường pháp luật 2. Khái niệm môi trường pháp luật Luật pháp là một trong những yếu tố nan giải nhất trong KDQT.
Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên thị trưởng quốc tế. Việc nghiên cứu và hiểu rõ môi trường pháp luật trong nước và ngoài nước, môi trưởng pháp luật quốc tế và đặc biệt là việc nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến các hoạt động KDQT trở nên cấp thiết đối với các nhà 8 hoạt động kinh doanh muốn thành công trên thương trường quốc tế.