Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa 12 Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị âm thanh từ thị trường Trung Quốc của công ty TNHH Thương Mại Kỹ Nhạc Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp đối với công ty TNHH Thương Mại Kỹ Nhạc 13 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Môi trường kinh doanh quốc tế Có rất đa dạng hướng giải thích thế nào là môi trường kinh doanh quốc tế định nghĩa bởi nhiều nhà nghiên cứu, nhà học thuyết khác nhau: P. Subba Rao (2008) cho rằng: “Môi trường kinh doanh quốc tế có nghĩa là các yếu tố hoặc hoạt động bao quanh hoạt động kinh doanh quốc tế, ảnh hưởng hoặc tác động đến các công ty đa quốc gia và các công ty giao dịch”.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh toàn cầu được nghiên cứu thông qua khung PESTEL (Political, Economic, Social, Technological, Environmental, and Legal – Chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường và pháp lý). Phạm Thị Hồng Yến (2010) nêu lên khái niệm: “Môi trường kinh doanh quốc tế là môi trường kinh doanh ở nhiều quốc gia khác nhau. Môi trường này có nhiều đặc điểm khác biệt so với môi trường trong nước của doanh nghiệp, có ảnh hưởng quan trọng tới các quyết định của doanh nghiệp về sử dụng nguồn lực và năng lực. Vì các doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát được môi trường bên ngoài nên sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào việc các doanh nghiệp thích ứng như thế nào với môi trường này”.
Doãn Kế Bôn, Lê Thị Việt Nga (2021) định nghĩa: “Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính, … những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong công việc kinh doanh”. Tổng quan, hiện nay đã tồn tại rất nhiều các khái niệm, các nhận định về môi trường kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, trong khóa luận này, môi trường kinh doanh quốc tế sẽ được hiểu với nghĩa là các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của một doanh nghiệp, bao gồm 4 nhân tố ảnh hưởng chính là môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa và môi trường pháp luật. Nhập khẩu 14 Theo Doãn Kế Bôn, Lê Thị Việt Nga (2021): “Nhập khẩu hàng hóa được hiểu là các nghiệp vụ cần thiết để đưa hàng hóa hay nguyên vật liệu từ bên ngoài vào trong lãnh thổ một quốc gia hoặc từ khu vực đặc biệt như khu vực hải quan riêng nằm trên quốc gia đó để phục vụ tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc để chờ tái xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận”.
Theo OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế: “Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (thương mại hàng hoá) là hàng hoá được bổ sung vào kho vật chất của một quốc gia bằng cách đưa vào lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó”. Theo định nghĩa của từ điển kinh tế học hiện đại của học viện công nghệ Massachuset định nghĩa “Hàng nhập khẩu là hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng ở một nước nhưng mua ở nước khác”. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại 2005 nước CHXHCN Việt Nam: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Nhìn chung, khóa luận này định nghĩa nhập khẩu là hoạt động mua hàng hóa/dịch vụ vượt qua biên giới của một quốc gia, khi đó người bán (nhà xuất khẩu) và người mua (nhà nhập khẩu) có trụ sở kinh doanh ở hai quốc gia khác nhau, hàng hóa/dịch vụ có sự di chuyển qua biên giới quốc gia.
Thiết bị âm thanh Theo Hughes (2007), Âm thanh là sự lan truyền của một sự thay đổi tạm thời về mật độ của các hạt trong môi trường đàn hồi. Âm thanh được tạo ra khi một vật thể trong môi trường đàn hồi bị rung.(Hughes, 2007) Hiện nay chưa có văn bản định nghĩa cụ thể về khái niệm thiết bị âm thanh. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, thiết bị âm thanh sẽ được hiểu là các công cụ, máy móc và hệ thống được thiết kế để tạo, xử lý, lưu trữ và phát lại âm thanh. Chúng bao gồm nhiều loại thiết bị, từ micro và loa đến bàn trộn âm thanh và bộ khuếch đại, phục vụ cho các mục đích khác nhau như ghi âm, phát nhạc, truyền thông, và biểu diễn nghệ thuật.
Các thiết bị này có thể hoạt động độc lập hoặc kết hợp thành các hệ thống phức tạp, đáp ứng nhu cầu trong các lĩnh vực như âm nhạc, truyền hình, điện ảnh và hội thảo. Một số lý thuyết về ảnh hưởng của các môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp 2. Môi trường chính trị 2. Khái niệm Theo Doãn Kế Bôn, Lê Thị Việt Nga (2021), môi trường chính trị là một khái niệm đề cập đến yếu tố chính trị, pháp lý và quyền lực của một quốc gia hoặc một khu vực cụ thể.
Môi trường chính trị là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp. Chính phủ các nước hoặc tổ chức địa phương có quyền lực để tạo ra các quy định và chính sách ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp trên toàn cầu. Điều này có thể bao gồm các quy định về bảo vệ môi trường, quy định về đầu tư và cách thức hoạt động của các doanh nghiệp. Phân loại Nhìn chung thì hệ thống chính trị hiện nay trên thế giới được chia làm 3 loại chế độ chính trị, bao gồm chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ dân chủ.
Chế độ chuyên chế (Totalitaianism) là hệ thống chính trị trong đó một cá nhân hoặc một đảng chính trị duy trì việc kiểm soát hoàn toàn và từ chối ghi nhận hay ủng hộ đảng phải khác. Bên cạnh các vấn đề kinh tế, chính trị Nhà nước trong hệ thống chính trị này còn tìm cách kiểm soát thái độ, niềm tin và giá trị của người dân đất nước. Hiện tại tồn tại rất nhiều hình thức khác nhau của hệ thống chính trị toàn trị, bao gồm: Chủ nghĩa cộng sản (Communism), chuyên chế thần quyền (Theocratic totalitarianism) và chuyên chế thế tục (Secular totalitarianism). Chủ nghĩa cộng sản (Communism) là hệ thống mà chính phủ sở hữu toàn bộ tài sản và quyết định mọi vấn đề liên quan đến sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ (Ví dụ điển hình nhất là đất nước Cuba).
Chuyên chế thần quyền (Theocratic totalitarianism) là hệ thống chính trị nơi một nhóm tôn giáo nắm toàn bộ quyền hành và trấn áp hay khủng bố những nhân tố không chấp nhận tuân theo tôn giáo của những người cầm quyền (ví dụ có thể kể đến như Iran và một số vùng Trung Đông). Chuyên chế thế tục (Secular totalitarianism) là hình thức chính trị mà quân đội một quốc gia kiểm soát chính phủ và đưa ra quyết định (Bắc Triều Tiên là điển hình của hình thức chính trị này). Điểm chung của những hệ thống chính trị này chính là đều tạo khung xương sống trong cơ cấu hệ thống kinh tế, vậy nên để có thể thay đổi hệ thống kinh tế, sự thay đổi phải xuất phát từ cách một quốc gia được cầm quyền (Collinson và c. 16 Chế độ xã hội chủ nghĩa (Socialism) là lý thuyết kinh tế chính trị ủng hộ quyền sở hữu và quản lý tập thể đối với các phương tiện sản xuất và phân phối hàng hóa (Kristian Niemietz, 2019).
Hệ thống này quan niệm rằng so với phúc lợi cá nhân thì tổng phúc lợi của mọi người sẽ lớn hơn rất nhiều. Họ cho rằng các công nhân được hưởng khoản lương không tương xứng với phần lao động họ bọ ra. Chế độ chủ nghĩa xã hội hướng đến mục đích xã hội – đạo đức (Albert, 2009). Chế độ dân chủ (Democracy) là hệ thống chính phủ mà tại đây con người, trực tiếp hoặc gián tiếp qua ứng viên được bầu cử, sẽ quyết định những gì sẽ được thực hiện trong nền chính trị.
Hiện nay các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới đa phần đều định hướng theo dân chủ. Chế độ này có hai đặc trưng cơ bản là quyền sở hữu tư nhân và quyền lực có giới hạn của chính phủ (Bôn & Nga, 2021). Quyền sở hữu tư nhân là khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân, tài sản ở đây chính là tài sản hữu hình. Chính phủ chỉ đại diện nhân dân thực hiện một số chức năng thiết yếu phục vụ cho lợi ích toàn dân còn đa phần sư can thiệp và kiểm soát đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân và doanh nghiệp thì chính phủ bị hạn chế (Bôn & Nga, 2021; Collinson và c.
Ảnh hưởng của môi trường chính trị đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp Nhìn chung, khi môi trường chính trị mang tính ổn định sẽ là nhân tố thuận lợi thúc đẩy tốt các hoạt động kinh doanh quốc tế. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó. Các thể chế bình ổn và không có xung đột tạo điều kiện hài hòa hóa chính sách và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế. Ngược lại khi môi trường chính trị không ổn định, không lành mạnh.
sẽ dẫn đến các rủi ro và tác động bất lợi trong việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp. Sự thay đổi thường xuyên trong thể chế chính trị có thể dẫn đến việc ban hành những điều luật ít thuận lợi hoặc gây khó khăn cho việc tuân thủ của hoạt động thương mại quốc tế. Do đó việc nghiên cứu về hệ thống chính trị tại các quốc gia liên quan đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều rất cần thiết. Môi trường kinh tế 2.