Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Chương 3: Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu từ Trung Quốc bằng đường biển của Công ty TNHH Giao nhận quốc tế Ngân Hà Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu từ Trung Quốc bằng đường biển của Công ty TNHH Giao nhận quốc tế Ngân Hà 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm nhận hàng nhập khẩu Theo Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005, “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Điều 163 Luật Thương mại 1997, “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của khách hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác.” Cho nên, “Nhận hàng nhập khẩu là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật và giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của khách hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. Khái niệm quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Theo Bài giảng Quản trị giao nhận vận chuyển hàng hóa quốc tế, trường Đại học Thương mại, 2016, trang 13, “Để cho quá trình vận chuyển được Bắt đầu - Tiếp tục - Kết thúc, tức là hàng hóa đến được với người mua, thì cần thực hiện hàng loại các công việc khác liên quan đến quá trình vận chuyển như đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp/dỡ, giao hàng cho người nhận ở nơi đến.
Tất cả những công việc như này được gọi chung là nghiệp vụ giao nhận - Forwarding.” Cho nên, “Quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển có thể hiểu là một quy trình gồm nhiều công việc mà nhà quản trị sẽ phải lựa chọn và đưa ra các quyết định để tổ chức giao nhận, vận chuyển hàng hóa giữa hai địa điểm (một địa điểm bốc hàng và một địa điểm dỡ hàng) tại hai quốc gia khác nhau đi qua đường biển. Các khái niệm về rủi ro trong hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu đường biển a, Khái niệm về nguy cơ “Nguy cơ là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra, được đo lường bằng xác suất thống kê.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 334). Nghĩa là nguy cơ rủi ro đề cập đến khả năng xảy ra những sự kiện, hiện tượng bất lợi đối với con người, luôn tiềm ẩn và song hành cùng các hoạt động của con người. b, Khái niệm về rủi ro “Rủi ro là những sự kiện bất lợi, bất ngờ đã xảy ra gây tổn thất cho con người.
“Rủi ro là một biến cố không chắc chắn mà nếu xảy ra thì sẽ gây tổn thất cho con người hoặc tổ chức nào đó.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Trang 10). c, Khái niệm về tổn thất “Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản; cơ hội mất hưởng về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 336). Có thể nói, rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau: Rủi ro là nguyên nhân, tổn thất là hậu quả. Bất cứ rủi ro nào cũng để lại tổn thất ở dạng này hay dạng khác, nhưng không phải tổn thất nào cũng được quy cho những rủi ro.
Vì vậy, khi nghiên cứu rủi ro cần phải nghiên cứu tổn thất, bởi qua việc nghiên cứu về tổn thất sẽ thấy được sự nguy hiểm, tác hại, mức độ nghiêm trọng của rủi ro đối với con người. Mặt khác, nghiên cứu về tổn thất mà không nghiên cứu về rủi ro thì sẽ không biết được nguyên nhân của thiệt hại để từ đó có biện pháp phòng ngừa, hạn chế tổn thất. Khái niệm về quản trị rủi ro a, Khái niệm quản trị rủi ro Ủng hộ quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện” của Kloman, Haims và các tác giả khác, Đoàn Thị Hồng Vân và cộng tác giả (2013) đã đưa ra định nghĩa: “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công.” “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Trang 28). b, Khái niệm nhận dạng rủi ro “Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Trang 39).
c, Khái niệm kiểm soát rủi ro “Kiểm soát rủi ro là hoạt động liên quan đến việc đưa ra và sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ khác nhau nhằm phòng ngừa và giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của tổ chức.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Trang 82). d, Khái niệm tài trợ rủi ro “Tài trợ rủi ro là tập hợp các hoạt động nhằm tạo ra và cung cấp những phương tiện (hay nguồn lực) để khắc phục hậu quả hay bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra, gây quỹ dự phòng cho những chương trình để giảm bớt bất trắc và rủi ro hay để gia tăng những kết quả tích cực.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Trang 97). Khái niệm quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Tổng hợp từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu “Quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc 8 phục các hậu quả của rủi ro trong quá trình giao nhận vận chuyển hàng hóa giữa hai điểm (một địa điểm bốc hàng và một địa điểm dỡ hàng) tại hai quốc gia khác nhau đi qua đường biển. Quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Bước 1: Đặt chỗ vận tải và sắp xếp vận tải quốc tế (nếu có) Trường hợp người nhập khẩu là người thuê tàu theo điều kiện cơ sở giao hàng nhóm E, F thì người nhập đứng ra đặt chỗ với hãng tàu.
Nguời nhập khẩu có thể thuê dịch vụ giao nhận vận chuyển của các công ty giao nhận logistics cung cấp. Bước 2: Chuẩn bị chứng từ nhận hàng nhập khẩu Người giao nhận (FWD) cần liên lạc với hãng tàu để biết tình hình lịch trình tàu chạy hay lịch trình có sự thay đổi gì không. Người giao nhận nhận pre-alert và bản chụp chứng từ từ đại lý nước ngoài, in chứng từ ra kiểm tra đối chiếu MBL và HBL xem các chi tiết có khớp nhau hay không. Nếu có sự khác biệt giữa MBL và HBL thì viết mail báo ngay cho đại lý, yêu cầu họ kiểm tra và sửa chữa bill để nộp manifest.
Trước ngày tàu đến, hãng tàu hoặc Co-loader gửi giấy báo hàng đến (A/N). Trên A/N thường có thông báo số cước và các local charges phải nộp. Kiểm tra xem tiền cước Collect có khớp với Pre-alert của đại lý không. FWD dựa trên A/N của hãng tàu để gửi A/N cho khách hàng.
FWD nắm tình hình hoặc thay mặt chủ hàng mang vận đơn gốc và giấy giới thiệu đến hãng tàu để lấy lệnh giao hàng (D/O) và đóng lệ phí. Người nhập khẩu chuẩn bị các chứng từ cho khai báo và thông quan hải quan như hợp đồng, hóa đơn, phiếu đóng gói,. Bước 3: Nhận hàng hóa tại điểm quy định Trong thời gian quy định, FWD có thể thay mặt người nhận hàng tiến hành các công việc để tiến hành nhận hàng. (1) Khai báo và thông quan hàng hóa nhập khẩu Khai hải quan điện tử và đóng thuế: Nhân viên chứng từ sử dụng phần mềm VNACCS/ECUS5 để khai báo hải quan điện tử và truyền tờ khai qua mạng hải quan điện tử.
Nếu truyền thành công, hệ thống mạng của hải quan sẽ tự động thông báo số 9 tiếp nhận, số tờ khai, phân luồng hàng hóa. Sau khi hoàn tất, FWD sẽ nhận được tờ khai hải quan hàng nhập, in bộ tờ khai ra và liên hệ khách hàng nộp thuế. Sau khi hoàn thành nộp thuế và tờ khai được thông quan, tiến hành in mã vạch và nộp cùng tờ khai đã thông quan cho hải quan giám sát ít nhất 2 bộ. Hải quan đóng dấu lên mã vạch và trả lại cho doanh nghiệp 1 bộ, còn 1 bộ hải quan sẽ giữ.
để xuất phiếu EIR. Tiếp theo, giao cho tài xế các chứng từ như phiếu EIR, D/O,. để tài xế trình hải quan giám sát cổng và cho xe trở hàng rời khỏi cảng. (3) Vận chuyển hàng hóa đến địa điểm của người nhập khẩu FWD căn cứ trên hợp đồng vận tải để giúp người nhập khẩu nhận hàng từ người vận tải.
Trường hợp chủ hàng không lo được các việc như vận tải nội địa, khai báo và thông quan hàng hóa nhập khẩu có thể thuê FWD lo việc này. Sau khi lấy hàng ra khỏi container để xếp vào kho xong, tài xế mang container trả về cảng.