Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V2M Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V2M 6 Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V2M. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Một số khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu 2. Khái niệm về nguy cơ, rủi ro, tổn thất 2.
Khái niệm về nguy cơ “Nguy cơ là một nguồn, một tình huống hoặc một hành động có tiềm năng gây ra tổn hại đối với con người, như tổn thương hay tác hại sức khỏe hoặc kết hợp cả hai tổn hại trên” (Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7301-1:2008). Nguy cơ rủi ro là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra, là hiện tượng bất lợi đối với con người, luôn tiềm ẩn và song hành cùng các hoạt động của con người” (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 334). Như vậy có thể hiểu, nguy cơ là sự kết hợp giữa khả năng có thể xảy ra một sự kiện và những hậu quả xấu do sự kiện đó gây ra. Khái niệm rủi ro “Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người gây ra những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình.
Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài ý muốn con người, nhưng con người hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất rủi ro mang đến” (PGS. TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, trang 334). Khi nói đến rủi ro chúng ta cần lưu ý các vấn đề sau: Thứ nhất, rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra. Bất ngờ là con người không thể lường trước được, nó có thể xuất hiện ở một thời điểm bất kì nào đó trong tương lai và ở bất cứ nơi đâu.
Mọi rủi ro đều là bất ngờ cho dù mức độ bất ngờ có thể là khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tuy nhiên sự kiện bất ngờ đó đã phải xảy ra thì mới được coi là rủi ro. Thứ hai, rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất. Mọi rủi ro xảy ra đều sẽ để lại những hậu quả nhưng tổn thất đó có thể không đáng kể hoặc tổn thất gián tiếp.
8 Thứ ba, rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi. Rủi ro gây ra tổn thất, là sự cố bất ngờ nằm ngoài mong đợi của con người. Hơn nữa, nó thể hiện tính khó lường trước, tính khách quan và loại bỏ ý chủ quan của các chủ thể tham gia hoạt động. Ba vấn đề trên được coi là ba điều kiện của rủi ro.
Hay nói cách khác một sự kiện được coi là rủi ro nếu thỏa mãn đồng thời ba điều kiện trên. Việc nghiên cứu rủi ro thực chất nhằm đạt được mục đích cuối cùng là hạn chế những thiệt hại, tổn thất cho các đối tượng liên quan. Nghĩa là việc nghiên cứu rủi ro được xem xét trong những phạm vi và đối tượng nhất định trong từng hoạt động cụ thể bởi lẽ sự kiện xảy ra được coi là rủi ro với đối tượng này nhưng lại là cơ hội cho đối tượng khác. Khái niệm tổn thất “Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản; cơ hội mất hưởng; về con người, tinh thần, sức khoẻ và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, trang 336) Tổn thất có thể là hữu hình (tổn thất con người, tài sản, .) và có thể là vô hình (tổn thất tinh thần, đe dọa sự nghiệp,.
Trong hoạt động thương mại quốc tế, thường người ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình. Có thể thấy, rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau, chúng cùng phản ánh một sự kiện bất ngờ xảy ra, nhưng lại có mối quan hệ nhân quả. Trong đó, rủi ro là nguyên nhân còn tổn thất là hậu quả. Rủi ro phản ánh về mặt chất của sự kiện bao gồm nguyên nhân, mức độ, tính chất nguy hiểm; còn tổn thất về mặt lượng của sự kiện bao gồm mức độ thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần.
Khái niệm nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Theo Quy tắc mẫu của Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA về dịch vụ giao nhận: “Dịch vụ giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu hàng, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”. Như vậy có thể hiểu dịch vụ giao nhận vận tải là tập hợp những công việc có liên quan đến quá trình vận tải, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy 9 từ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của bên thứ ba khác. Nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là dịch vụ liên quan đến vận chuyển và làm các thủ tục để nhận hàng nhập khẩu thông qua phương thức vận chuyển đường biển.
Dịch vụ nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển bao gồm các công việc kể từ khi nhận hàng từ người bán cho đến khi giao hàng tới nơi người mua. Khái niệm về quản trị rủi ro và quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, Trang 28). Mục tiêu của quản trị rủi ro là tối ưu sử dụng các nguồn lực thông qua việc tối thiểu hóa những thiệt hại rủi ro gây ra và khai thác những cơ hội từ rủi ro. Quản trị rủi ro không chỉ đơn thuần là hoạt động thu động, né tránh hay phòng tránh, mà còn là những hoạt động chủ động, tích cực của nhà quản trị trong công việc dự kiến những thiệt hại, tổn thất có thể xảy ra và tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả của chúng.
“Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế là hệ thống các nghiệp vụ nhằm nhận dạng, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong quá trình tiến hành các các nghiệp thương mại quốc tế” (PGS.TS Đoàn Kế Bôn, 2009, giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 375) Như vậy quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần là nhận dạng được rủi ro mà quan trọng hơn là phải đánh giá được mức độ nguy hiểm của rủi ro và đưa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến trong từng tác nghiệp của chuỗi tác nghiệp thương mại quốc tế từ khi lựa chọn đối tác cho đến khi thanh toán tiền hàng và thực hiện các nghĩa vụ liên quan khác. Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế cần phải được tiến hành một cách đồng bộ từ xác lập kế hoạch nhân sự đến triển khai các tác nghiệp trong từng khâu, từng tác nghiệp với khả năng huy động và vận dụng tối đa 10 với các nguồn lực cử bầu trong và bên ngoài doanh nghiệp theo phương châm “phòng ngừa” được ưu tiên trước mất. Từ đó, ta thấy quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là hệ thống các nghiệp vụ nhằm nhận dạng, phân tích, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập bằng đường biển bằng cách đưa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến. Một số lý thuyết về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2.
Quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Theo bài giảng “Giao nhận vận chuyển hàng hóa quốc tế” của Bộ môn Kinh tế trường Đại học Thương Mại, quy trình chung về nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển bao gồm 4 bước sau: Bước 1 : Nắm tình hình hàng hóa và phương tiện vận tải Người giao nhận cần phối hợp người nhận hàng (người nhập khẩu) nắm tình hình phương tiện vận tải hoặc tiến hành lưu cước, đăng ký chuyển phương tiện vận tải + Trường hợp đã có hợp đồng với người chuyên chở thực tế, người giao nhận cần liên lạc với hãng vận chuyển để biết lịch trình của phương tiện vận chuyển có thay đổi gì không + Trường hợp cần lưu cước (Booking, note) với hãng tàu do người nhập khẩu là người chịu trách nhiệm vận chuyển quốc tế (Incoterms nhóm E và F) người giao nhận nắm bắt lịch trình chuyến tàu và thực hiện đặt chỗ, ký hợp đồng vận tải. Bước 2 : Chuẩn bị chứng từ nhận hàng nhập khẩu - Người giao nhận nhận pre-alert và bản chụp chứng từ từ đại lý nước ngoài, in chứng từ ra, kiểm tra đối chiếu các thông tin trên HBL có khớp với MBL (POL, POD, Container/Seal, Shipping mark, Description of goods, G. Nếu có khác biệt giữa MBL và HBL thì viết mail báo ngay cho đại lý, yêu cầu họ kiểm tra lại thông tin, và chỉnh sửa bill để nộp Manifest. - Trước ngày tàu đến hãng tàu hoặc Co-loader sẽ gửi giấy báo hàng đến (Arrival notice), Trên A/N mà hãng tàu hay Co-loader gửi thưởng có thông báo số cước và các Local charges phải nộp.
Kiểm tra xem tiền cước Collect có khớp với 11 Pre-alert của đại lý không. Dựa trên A/N của hãng vận chuyển để gửi A/N cho khách hàng.