Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH Thương mại và XNK Hải Gia Chương 3: Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động giao hàng xuất khẩu bằng đường biển của Công ty TNHH Thương mại và XNK Hải Gia Chương 4: Định hướng phát triển và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển của công t y TNHH Thương Mại và XNK Hải Gia 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH GIAO HÀNG XUẤT KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI VÀ XNK HẢI GIA. Một số khái niệm cơ bản 2.Khái niệm về nguy cơ, rủi ro, tổn thất a, Khái niệm về nguy cơ Theo Đại từ điển tiếng việt, “Nguy cơ” là, cái có thể phát sinh tai họa trong thời gian gần nhất; còn “rủi”( danh từ) là, điều không tốt lành, tai họa bất ngờ xảy đến ( gặp rủi). Theo từ điển Oxford, “risk” là, khả năng của một tình huống hoặc một điều gì đó, có thể trở thành nguy hiểm hay có hậu quả tồi tệ ở một lúc nào đó trong tương lai. Theo các tài liệu tiêu chuẩn quốc tế “nguy cơ” (risk), là sự kết hợp của xác suất xảy ra tổn hại với tính nghiêm trọng của tổn hại này (ISO 14121-1: 2007).
Như vậy có thể hiểu nguy cơ rủi ro là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra, có thể được đo lường bằng xác suất thống kê. Khái niệm rủi ro Theo Từ điển Tiếng Việt do trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. “ Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình. Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài ý muốn của con người, nhưng con người lại có thể hoàn toàn kiểm soát ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất do rủi ro mang đến.TS Doãn Kế Bôn, 2009) Diễn giả một cách đầy đủ hơn về rủi ro và nguy cơ rủi ro, trong cuốn “Risk management and insurance”, các tác giả C.
Arthur William, Jr. Smith đã viết: “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả.
Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”. Tức là nguy cơ rủi ro là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy 8 ra , được đo lường bằng xác suất thống kê, nghĩa là nguy cơ rủi ro là đề cập đến khả năng xảy ra sự kiện , hiện tượng bất lợi đối với con người, luận tiềm ẩn và song hành cùng với con người. Trong khi đó, nói đến rủi ro là đề cập tới thực tại khách quan, đã xảy ra đối với con người và gây thiệt hại cho con người.
Từ tiếp cận như trên, có thể định nghĩa: Rủi ro là những sự kiện bất lợi, bất ngờ đã xảy ra gây tổn thất cho con người, Nói đến rủi ro, chúng ta cần lưu ý: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra: Bất ngờ là con người không thể lường trước được một cách chắc chắn, nó có thể xuất hiện vào một thời điểm bất kỳ trong tương lai và bất cứ nơi đâu. Mọi rủi ro đều là bất ngờ, không dự đoán trước được, cho dù mức độ bất ngờ có thể khác nhau và phụ thuộc rất nhiều ào nhận thức con người, vào quy luật rủi ro. Khi sự kiện bất ngờ đó xảy ra mang hướng tiêu cực thì mới được coi là rủi ro. Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất: Khi rủi ro xảy ra luôn để lại những hậu quả.
Hay nói cách khác, mọi rủi ro đều dẫn tới tổn thất, có trường hợp tổn thất không đáng kể hoặc tổn thất gián tiếp, trực tiếp. Rủi ro là những sự kiện ngoài mong đợi: Rủi ro mang lại tổn thất không mong muốn vì vậy nó là điều không được mong muốn trong mọi hoạt động. Một sự kiện được coi là rủi ro nếu thỏa mãn đồng thời cả 3 điều kiện trên. Việc nghiên cứu rủi ro thực chất là nhằm đạt được mục đích hạn chế những thiệt hại ngoài mong đợi cho các đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động.
Nghĩa là việc nghiên cứu rủi ro được xem xét trong những phạm vi nhất định, gắn với từng đối tượng nhất định trong từng hoạt động cụ thể. Bởi rất có thể một sự kiện xảy ra được coi là rủi ro với người này nhưng lại là điều kiện thuận lợi của người khác, sự việc khác. Tóm lại, ta có thể hiểu: “Rủi ro là là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình”. Khái niệm về tổn thất Tổn thất là sự thiệt hại của một đối tượng nào đó phát sinh từ một biến cố bất ngờ ngoài ý muốn của chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu sử dụng).
9 Tổn thất mang hàm ý của sự mất mát, ở khía cạnh khác, nó cũng có ý nghĩa tương đương với thiệt hại. Tổn thất có thể ở dạng hữu hình (Tài sản, con người, sức khỏe…) hoặc vô hình ( tinh thần, các mối đe dọa.) Rủi ro và tổn thất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro phản ánh một sự kiện bất lợi có thể xảy ra bao gồm nguyên nhân, mức độ, tính chất còn tổn thất phản ánh về mặt lượng mức độ thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần của sự kiện có nguyên nhân từ rủi ro gây ra, qua đó thấy được mức độ nghiêm trọng của sự kiện thôn thông qua khả năng tổn thất. Khả năng tổn thất là chỉ số biểu hiện tổn thất trong một số trường hợp nhất định. Thuật ngữ khả năng tổn thất được dùng khi người ta muốn đánh giá về một tình trạng xấu đã xảy ra trong quá khứ của một nhóm đối tượng đồng loại nhất định.
Để xác định khả năng tổn thất, người ta phải dựa vào thống kê kinh nghiệm trong quá khứ. Thống kê phải được tập hợp trên một tổng thể đủ lớn về số lượng trường hợp và thời gian quan sát. Có thể đánh giá khả năng tổn thất qua hai cách biểu hiện: ● Tính theo giá trị: gọi là Mức độ tổn thất ● Tính theo số lượng: gọi là Tần số tổn thất Khả năng tổn thất là một chỉ số quan trọng giúp doanh nghiệp xác định được khả năng tổn thất sẽ giúp họ đánh giá một cách đầy đủ và chính xác về những rủi ro liên quan đến hoạt động tại đơn vị mình. Từ đó, họ có thái độ xử sự đúng đắn và có biện pháp cụ thể đối với các rủi ro, tổn thất.
Như vậy, tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản, cơ hội mất hưởng về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra. Khái niệm về quản trị rủi ro “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khăcs phục các hậu quả của rủi ro” (PGS.TS Trần Hùng, 2017) Mục tiêu của quản trị rủi ro là tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực thông qua việc tối thiểu hóa những thiệt hại do rủi ro gây ra và khai thác những cơ hội từ rủi ro. Quản trị rủi ro không chỉ đơn thuần là hoạt động thụ động, né tránh hay phòng 10 tránh, mà còn là những hoạt động chủ động, tích cực của nhà quản trị trong công tác dự kiến những thiệt hại, tổn thất có thể xảy ra và tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả của chúng. Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế là hệ thống các nhiệm vụ nhằm nhận dạng.
đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong quá trình tiến hành các tác nghiệp thương mại quốc tế (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009). Như vậy, quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần là nhận dạng được rủi ro mà quan trọng hơn là phải đánh giá được mức độ nguy hiểm của rủi ro và đưa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến trong từng tác nghiệp của chuỗi tác nghiệp thương mại quốc tế khi lựa chọn đối tác cho đến khi thanh toán tiền hàng và thực hiện các nghĩa vụ liên quan khác. Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế cần phải được tiến hành một cách đồng bộ từ xác lập kế hoạch đến triển khai các tác nghiệp trong từng khâu, từng tác nghiệp với khả năng huy động và vận dụng tối tối đa các nguồn lực cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Khái niệm về giao hàng xuất khẩu bằng đường biển 2.1 Khái niệm xuất khẩu Theo Khoản 1 Điều 28 Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005, khái niệm xuất khẩu được định nghĩa như sau: “ Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa ra nước ngoài, nó không phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh để đem lại hiệu quả đột biến. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ.2 Khái niệm về giao nhận vận tải hàng hóa.