Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi HVTH: Trương Trọng Nghĩa – Lớp ME07B 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiển của đề tài; kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trình bày các khái niệm, đặc điểm; các hình thức sở hữu FDI, tác động lan tỏa FDI, cách tính năng suất lao động, lý thuyết kinh tế lên quan FDI, lý thuyết về tác động của FDI lên năng suất lao động và tóm tắt các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng dựa trên cở sở lý thuyết đã trình bày và một số nghiên cứu trước để xác định tác động của FDI lên năng suất lao động; giữa các loại hình DN FDI lên năng suất lao động và ảnh hưởng tác động này giữa các vùng tập trung vốn FDI nhiều so với các vùng còn lại. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Phân tích kết quả nghiên cứu bằng phần mềm Stata dựa trên các số liệu đã xử lý, phân tích thống kê mô tả dữ liệu, phân tích hồi quy mô hình xác định các biến số có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng của từng biến đến năng suất lao động.
Đồng thời, thực hiện các kiểm định cần thiết nhằm đảm mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Kết luận kết quả đạt được từ phân tích đồng thời đề xuất một số khuyến nghị để thu hút FDI đóng góp vào tăng năng suất lao động của DN trong ngành dệt may. Chương này cũng trình bày một số giới hạn của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. HVTH: Trương Trọng Nghĩa – Lớp ME07B 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài và năng suất lao động, bao gồm: Những vấn đề cơ bản liên quan đến FDI và năng suất lao động như: Khái niệm, các hình thức đầu tư và tác động lan tỏa của FDI; cách tính năng suất lao động.
Đồng thời, trình bày khung pháp lý và một số nghiên cứu trước về tác động của FDI đến năng suất lao động của DN.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).1 Khái niệm Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993), FDI được định nghĩa là: “đầu tư có lợi ích lâu dài của một DN tại một nước khác, không phải tại nước mà DN đang hoạt động với mục đích quản lý một cách có hiệu quả DN (DN)” Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD (1996), DN FDI là DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó một nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết. Đặc điểm mấu chốt của FDI là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia sử dụng mức 10% để làm mốc xác định FDI. Do vậy, các thống kê về FDI do các tổ chức khác nhau đưa ra cũng có thể khác nhau.
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp quốc (UNCTAD) trong Báo cáo đầu tư thế giới năm 1996 đã đưa ra định nghĩa về FDI: “là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà FDI hoặc công ty mẹ) đối với DN ở một nền kinh tế khác (DN FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh DN)” Theo Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (1996) “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Quyền quản lý là căn cứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Khi đó, nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (2000), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn HVTH: Trương Trọng Nghĩa – Lớp ME07B 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này.
Như vậy, FDI được hiểu theo những cách khác nhau tùy theo cách tiếp cận của mỗi quốc gia và theo những giác độ khác nhau. Nhưng theo tác giả, FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân) đưa vào nước tiếp nhận một số vốn đủ lớn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi nhuận và đạt được những hiệu quả kinh tế xã hội (KTXH); là hình thức đầu tư quốc tế mà nước tiếp nhận đầu tư không chỉ kỳ vọng vào lượng vốn đầu tư lớn, mà còn kỳ vọng vào tác động tràn tích cực do sự xuất hiện của FDI đó mang lại. Đây là loại hình di chuyển vốn quốc tế mà người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành việc sử dụng vốn đầu tư. Điều đó phản ánh bản chất của FDI là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư, hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư, thông qua di chuyển vốn từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư.
Đồng thời, trong quá trình tối đa hóa lợi ích hoặc lợi nhuận của nhà đầu tư, FDI cũng có những tác động lan tỏa tới nước tiếp nhận đầu tư. Đây là một trong những điểm cơ bản nhất và là nguyên nhân xâu xa dẫn đến việc hình thành hoạt động FDI giữa các quốc gia. Cũng có thể thấy rằng, chính bản thân khái niệm FDI cũng có sự phát triển ngày càng phù hợp hơn. Các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2.
Hình thức DN liên doanh (DNLD) Theo Điều 2, Khoản 2 - Luật Đầu tư 2005 qui định: “DNLD là DN do hai bên hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc DN có vốn ĐTNN hợp tác với DN Việt Nam hoặc do DNLD hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở hợp đồng liên doanh”. DNLD thành lập theo hình thức công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty cổ phần (CTCP) và công ty hợp danh, là một pháp nhân của nước sở tại nên hoạt động theo luật pháp của nước sở tại, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. HVTH: Trương Trọng Nghĩa – Lớp ME07B 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC Quyền quản lý DN, phân chia lợi nhuận và phân chia rủi ro tuỳ thuộc vào tỷ lệ góp vốn và quyền lợi của các bên được ghi trong hợp đồng liên doanh và điều lệ của DN. Hình thức DN 100% vốn nước ngài (VNN) Theo Luật DN 2014 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2015 thì DN 100% vốn nước ngoài thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
DN 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty TNHH, CTCP, công ty hợp danh, DN tư nhân, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đầu tư và chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư Việt Nam. Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (HĐHTKD) Theo Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp, trong đó HĐHTKD được ký kết giữa một hay nhiều nhà ĐTNN với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước (gọi là các bên hợp danh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập DNLD hoặc pháp nhân mới. Hình thức này không làm hình thành một công ty hay xí nghiệp mới, mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước Nhà nước. Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại DN Theo Điều 10, Nghị định 108/CP qui định: Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại DN để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật DN và pháp luật có liên quan.
DN nhận sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền, nghĩa vụ của DN bị sáp nhập, mua lại, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Đối với hình thức mua cổ phần, nhà ĐTNN khi góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các qui định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn. HVTH: Trương Trọng Nghĩa – Lớp ME07B 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC Ngoài các hình thức cơ bản trên, trong các công trình xây dựng còn có các hình thức: - BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao); - BTO (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh); - BT (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao); - BCC (Hợp đồng phân chia sản phẩm). Mỗi hình thức đầu tư FDI đều có điểm mạnh và hạn chế nhất định tùy theo tình hình thực tế của nhà đầu tư và nước nhận đầu tư.
Vì vậy, các nước đa dạng hoá các hình thức đầu tư nhằm kết hợp lợi ích của bên đầu tư và bên nhận đầu tư.2 Năng suất lao động 2.1 Khái niệm Năng suất lao động là đại lượng đặc trưng cho sản lượng sản xuất thực tế trong một đơn vị thời gian, là sản lượng đạt được thông qua các ca lam việc trong ngày, trong tuần, khi các phương tiện phục vụ cho sản xuất không đổi Ramsay (1973) định nghĩa năng suất lao động gắn với khái niệm hiệu quả trong kinh tế học, nghĩa là việc sử dụng tốt nhất những thứ có được để có được kết quả mong muốn theo yêu cầu của xã hội thông qua 3 vấn đề cơ bản nhất là sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai.