Chương I. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Chương II. Cơ sở lý luận về tác động của FDI đến năng lực cạnh tranh của ngành Chương III. Đánh giá tác động của FDI đối với năng lực cạnh tranh của Ngành Công nghiệp điện tử Việt Nam Chương IV: Một số giải pháp nâng cao tác động của FDI đến năng lực cạnh tranh Ngành Công nghiệp điện tử Việt Nam 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.
Những nghiên cứu về tác động của FDI đến doanh nghiệp, ngành, quốc gia 1. Lý thuyết Giải thích sớm nhất cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là lý thuyết về chuyển động dòng vốn, coi FDI là một thành phần của đầu tư danh mục đầu tư. Năm 1976, Hymer đã đóng góp đột phá bằng cách cung cấp cách giải thích ban đầu về FDI trong các ngành công nghiệp truyền thống. Theo Hymer, các tập đoàn đa quốc gia chỉ sẵn sàng tham gia vào FDI nếu họ có thể có được lợi thế so với các doanh nghiệp địa phương thông qua các tài sản vô hình như thương hiệu lâu đời, bản quyền công nghệ, chuyên môn quản lý và các yếu tố độc đáo khác.
FDI có thể xảy ra do khó bán hoặc cho thuê các tài sản vô hình này, bất chấp mong muốn của các tập đoàn đa quốc gia làm như vậy. Cách tiếp cận nội bộ của doanh nghiệp, trái ngược với lý thuyết về tổ chức công nghiệp, đặt trọng tâm mạnh vào các doanh nghiệp tham gia vào FDI. Sự nhấn mạnh này bắt nguồn từ sự thừa nhận rằng thị trường cho các yếu tố sản xuất là không hoàn hảo, khiến các doanh nghiệp tìm kiếm các phương pháp thay thế để tiến hành kinh doanh. Cụ thể, các doanh nghiệp cố gắng thay thế các giao dịch thị trường bằng các giao dịch nội bộ của doanh nghiệp, vì cách tiếp cận này cho phép họ giảm chi phí tiếp thị nhất định.
Bằng cách nội tâm hóa các tài sản của doanh nghiệp, các công ty này có thể vượt qua các khoảng thời gian kéo dài có thể dẫn đến sự chậm trễ, đàm phán và sự không chắc chắn cho người mua. Ngược lại, lý thuyết về vị thế đầu tư FDI làm sáng tỏ lý do chính của FDI là sự chênh lệch trong các yếu tố sản xuất nhất định như nguyên liệu thô và lực lượng lao động giữa các quốc gia. Do đó, sự khác biệt này dẫn đến các chi phí khác nhau gắn liền với vị thế đầu tư. Dunning (1988) trình bày lý thuyết về cấu trúc của dòng vốn FDI.
Mô hình OLI (ownership (sở hữu) – location (nơi đầu tư) – internalization (nội bộ hóa các đặc trưng doanh nghiệp)), được ông giới thiệu như một lý thuyết triết học về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Lý thuyết này vẫn còn giá trị và phù hợp cho đến ngày nay, vì nó kết hợp ba lý thuyết riêng biệt về FDI nhấn mạnh lợi ích của quyền sở hữu, lợi thế của việc đầu tư vào một số địa điểm nhất định và lợi thế của việc nội tâm hóa các đặc điểm của doanh nghiệp. Trong nước Hồ Thị Thanh Mai và Phạm Thị Thanh Thủy (2016) đã tiến hành nghiên cứu “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Khánh Hoà”. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng sự kết hợp của các phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích định lượng, đặc biệt sử dụng mô hình tự hồi quy vector Var, để đánh giá mối quan hệ nhân quả của Granger.
Năm biến số kinh tế đã được xem xét trong nghiên cứu: tổng sản phẩm (GRDP), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI thực hiện), lao động (L), nguồn nhân lực (SV) và mở cửa thương mại (OPEN). Các phát hiện của cuộc điều tra cho thấy mối liên hệ nhân quả một chiều giữa tăng trưởng kinh tế và FDI ở Khánh Hòa. Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2013) nghiên cứu về “Các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở các nước Châu Á” trong quá trình nghiên cứu họ thấy được dòng vốn FDI dự kiến sẽ có tác động tích cực đến nước tiếp nhận thông qua việc tích lũy vốn, chuyển giao kiến thức kỹ thuật, tiếp thu chuyên môn công nghệ, nâng cao năng lực sáng tạo và cuối cùng là kích thích tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy GMM sai phân dữ liệu bảng Arellano-Bond và phương pháp ước tính PMG để kiểm tra ảnh hưởng của quy mô thị trường, lao động, thâm hụt ngân sách, cơ sở hạ tầng, mở cửa thương mại và lạm phát đối với FDI ở 11 quốc gia châu Á trong giai đoạn từ 1990 đến 2011.
Các phát hiện cho thấy, ngoại trừ tác động tiêu cực của thâm hụt ngân sách đối với FDI trong trường hợp ước tính PMG, quy mô thị trường, lao động và sự mở cửa thương mại là những yếu tố quyết định chính của FDI trong cả hai phương pháp ước tính. Nguyễn Thị Quỳnh Hương và Trần Kim Anh (2021) trình bày khung phân tích toàn diện trong nghiên cứu của họ với tiêu đề “Thu hút FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững ở Việt Nam”. Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để kiểm tra vai trò của FDI trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo (CNCBCT). Các tác giả đề xuất ba tiêu chí, đó là vốn FDI, nhân lực ngành và giá trị xuất khẩu, để đánh giá tác động của việc thu hút FDI trong ngành CNCBCT.
Những nỗ lực này nhằm nâng cao quy mô và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. 8 Nguyễn Thị Thu Hà (2018) đã thực hiện một nghiên cứu mang tên “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương”. Tác giả nhấn mạnh việc thúc đẩy doanh nghiệp trong nước bằng FDI vẫn chưa đủ, dẫn đến sự chênh lệch thu nhập giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, FDI làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ở cấp độ xã hội, giảm thu hút lao động lâu dài và gây ô nhiễm môi trường như ô nhiễm nước và không khí.
Những phát hiện này đặt ra những thách thức đáng kể về mặt quản lý và định hình các chính sách phát triển kinh tế xã hội, đồng thời đưa ra các định hướng cụ thể để tăng cường tác động của FDI trong tương lai. Huỳnh Công Minh & Nguyễn Tấn Lợi (2017) đã đưa ra đề tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thể chế: Bằng chứng thực nghiệm từ các nước Châu Á” đã xem xét kỹ lưỡng mối liên hệ nhân quả hai chiều giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tầm cỡ của các tổ chức ở 19 quốc gia châu Á từ năm 2002 đến năm 2015, sử dụng một mô hình các phương trình đồng thời. Bằng cách áp dụng các phương pháp ước tính 3SLS và SGMM. Nghiên cứu tìm thấy các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến chất lượng thể chế bao gồm: Dân chủ hóa, độ mở thương mại, giáo dục, và thu nhập quốc dân bình quân đầu người.
Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có những yếu tố cụ thể đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Những yếu tố này bao gồm đầu tư trong nước, quy mô thị trường, nguồn lao động, chất lượng lao động, tính mở thương mại và tài nguyên thiên nhiên. Hà Thành Công (2019) đã đưa ra nghiên cứu xem xét mối tương quan giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, thương mại quốc tế, tổng tích lũy tài sản cố định và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 1990 - 2017. Bằng cách dựa vào thử nghiệm Colinkage Johansen và mô hình vectơ sửa lỗi (VECM), nghiên cứu chứng minh sự hiện diện của mối liên hệ lâu dài giữa các biến này.
Cụ thể, các biến số này có ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam. FDI là một thành phần năng động cao trong phong trào tài nguyên toàn cầu, hoạt động kết hợp với đầu tư vốn cho phát triển (Brems, 1970). Nó cũng tạo điều kiện cho việc nâng cao nguồn nhân lực và tạo ra cơ hội việc làm (Gregorio, 2003). Hơn nữa, FDI hỗ trợ mở rộng thị trường và kích thích xuất khẩu, từ đó thúc đẩy sự chuyển đổi cấu trúc kinh tế.
Đào Thị Bích Thủy (2012) nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình nền kinh tế đang phát triển” đã phát triển 9 mô hình với hàm sản xuất có dạng hàm Cobb-Douglas. Phân tích trong ngắn hạn nền kinh tế chịu tác động của công nghệ sản xuất nước ngoài và lãi suất thế giới; Tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn được thực hiện thông qua quá trình tích lũy vốn. Với mục tiêu đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp phân tích mô hình đã cho thấy tầm quan trọng của vốn nhân lực như một nhân tố quyết định sự thành công của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả của phân tích đưa ra những ý nghĩa chính sách đáng chú ý nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong cả hoạt động ngắn hạn và mở rộng dài hạn của nền kinh tế.
Đề tài nghiên cứu về “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của 4 tiến sĩ và thạc sĩ Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng, Nguyễn Mạnh Hải tập trung vào phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế thông qua hai kênh quan trọng nhất là vốn đầu tư và các tác động tràn. Với 4 tác động tràn: tác động liên quan tới cơ cấu đầu ra-đầu vào của doanh nghiệp; tác động liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ; tác động liên quan đến thị phần trong nước hay tác động cạnh tranh; tác động liên quan đến trình độ lao động (hay vốn con người). Các tác động tràn nêu trên có thể ảnh hưởng tới năng suất của các doanh nghiệp trong nước. Do giá trị gia tăng của cả nền kinh tế được tạo ra chủ yếu bởi các doanh nghiệp, nên có thể hình dung ra mối quan hệ gián tiếp giữa tăng trưởng và tác động tràn của FDI.
Nguyễn Thị Thanh Mai, Đỗ Quỳnh Anh (2020) nghiên cứu “Tác động lấn át của FDI đến sự rời ngành của doanh nghiệp trong nước” chỉ ra FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.