Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, cây ngô giữ vị trí cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa nước. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn từ Cục Trồng trọt, diện tích canh tác ngô cả nước năm 2015 đạt 1.179 nghìn hecta với năng suất bình quân 4,48 tấn/ha, tập trung chủ yếu ở vùng miền núi phía Bắc (465,7 nghìn ha), Bắc Trung Bộ (257,6 nghìn ha) và Tây Nguyên (232,6 nghìn ha). Quy mô canh tác này tạo ra hàng triệu tấn phế phụ phẩm mỗi năm. Trong khi thân và lá cây ngô thường được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi, thì phụ phẩm lõi ngô phần lớn bị thải bỏ tự nhiên hoặc đốt khô thủ công, gây ô nhiễm môi trường và lãng phí nguồn sinh khối lớn. Do chứa hàm lượng cellulose và hemicellulose cao, lõi ngô có tốc độ tự phân hủy chậm trong tự nhiên nhưng lại là nguồn cơ chất giàu carbon thích hợp cho các loài nấm mục trắng, đặc biệt là nấm sò (Pleurotus spp.). Bên cạnh yếu tố cơ chất nuôi trồng, chất lượng môi trường nhân giống cấp 1 là khâu kỹ thuật then chốt, quyết định trực tiếp đến sức sống hệ sợi, độ thuần khiết của giống, mức độ nhiễm bệnh của bịch phôi và năng suất quả thể. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Ảnh hưởng của một số dinh dưỡng hữu cơ đến khả năng sinh trưởng và phát triển của chủng nấm sò STM" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm hai nội dung chính:

  1. Đánh giá sự sinh trưởng của hệ sợi giống nấm cấp 1 trên một số môi trường nhân giống có bổ sung các nguồn dịch chiết tự nhiên.
  2. Khảo sát, đánh giá khả năng sinh trưởng của chủng nấm sò STM trên nguồn nguyên liệu lõi ngô nhằm xác định công thức cơ chất thích hợp cho sự sinh trưởng hệ sợi cùng quá trình hình thành và phát triển quả thể, góp phần hoàn thiện quy trình công nghệ nuôi trồng nấm sò trên giá thể lõi ngô.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được phân bổ thành bốn yêu cầu:

  1. Đánh giá sinh trưởng hệ sợi giống cấp 1 trên 5 công thức môi trường dinh dưỡng hữu cơ để tuyển chọn môi trường tối ưu.
  2. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của chủng STM trên giá thể phối trộn giữa lõi ngô và mùn cưa theo các tỷ lệ khác nhau.
  3. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của chủng STM trên giá thể phối trộn giữa lõi ngô và bông hạt theo các tỷ lệ khác nhau.
  4. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của chủng STM trên giá thể phối trộn giữa lõi ngô, bông hạt và mùn cưa theo các tỷ lệ khác nhau.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chủng nấm sò STM (Pleurotus sp.), nguồn giống gốc được phân lập và lưu giữ tại Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Khoa Công nghệ Sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm và nhà xưởng thực nghiệm thuộc Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Khoa Công nghệ Sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Thực nghiệm được tiến hành từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 6 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng dựa trên cơ sở sinh học phân loại và sinh lý học nấm lớn. Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr., 1871), họ Pleurotaceae, bộ Agaricales, lớp Agaricomycotina, ngành Basidiomycota. Chu trình sống của nấm sò mang đặc trưng của loài nấm dị tản hai yếu tố: bào tử đảm đơn bội nảy mầm tạo hệ sợi đơn nhân sơ cấp, hai sợi đơn bội khác tính kết hợp tạo hệ sợi thứ cấp song hạch có khóa điển hình; khi gặp điều kiện thuận lợi, hệ sợi bện kết hình thành mầm quả thể, trải qua các giai đoạn hình thái (dạng san hô, dùi trống, phễu, bán cầu lệch, lá lục bình). Về mặt hóa sinh cơ chất, nấm sò tiết hệ enzyme ngoại bào gồm cellulase, hemicellulase, laccase, peroxidase và protease để phân giải lignocellulose từ phụ phẩm thực vật. Báo cáo đối chiếu thành phần hóa học của lõi ngô với một số cơ chất truyền thống (theo Adebayo E.A và cộng sự, 2014) cho thấy lõi ngô chứa 38,8% hemicellulose, 44,4% cellulose và 11,9% lignin; tỷ lệ này tương đương hoặc cao hơn rơm lúa mì (30,0% hemicellulose, 41,0% cellulose, 15,0% lignin) và dăm gỗ (15,4% hemicellulose, 16,7% cellulose, 26,0% lignin), chứng minh tiềm năng phân giải sinh học của chủng nấm.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được áp dụng:

  • Bố trí thí nghiệm: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) với 3 lần nhắc lại cho tất cả các nội dung.
  • Thí nghiệm môi trường cấp 1: Bổ sung 4 loại dịch chiết tự nhiên vào nền môi trường PDA (khoai tây - đường - agar), đối chứng là môi trường PDA tiêu chuẩn. Môi trường hấp khử trùng ở 121°C trong 60 phút, đổ đĩa Petri 25 ml/đĩa, cấy miếng giống kích thước 6 × 6 mm từ nguồn giống gốc, theo dõi trên 3 đĩa petri/lần nhắc lại (tổng số 27 đĩa/công thức).
  • Thí nghiệm nuôi trồng trên cơ chất phôi: Nguyên liệu được xử lý sơ bộ (mùn cưa làm ẩm bằng nước vôi 4 kg/1000 lít nước, ủ 6-10 ngày; bông phế loại xử lý nước vôi 1%, ủ 24-36 giờ; lõi ngô nghiền nhỏ làm ẩm nước vôi, ủ 10-15 ngày; bổ sung 1% bột nhẹ $\text{CaCO}_3$ hiệu chỉnh pH và 5% cám dinh dưỡng). Đóng túi nilon chịu nhiệt kích thước 25 × 35 cm, khối lượng 1,3 kg/bịch, khử trùng nhiệt ẩm tại 100°C trong 8-10 giờ. Nuôi sợi trong phòng tối (20-30°C, ẩm độ 65-80%), rạch 6 vết (sâu 1-1,5 cm, dài 3-4 cm, nghiêng 45°) và chăm sóc ra quả thể dưới ánh sáng khuếch tán 300-400 lux, độ ẩm không khí 75-90%. Mỗi công thức theo dõi 5 bịch/lần nhắc lại (tổng số 15 bịch/công thức).
  • Chỉ tiêu theo dõi: Tốc độ lan hệ sợi ($V = D/T$, mm/ngày), thời gian kín đĩa/kín bịch (ngày), mật độ hệ sợi (theo thang điểm định tính), thời gian xuất hiện mầm quả thể, thời gian bắt đầu thu hái, các chỉ tiêu hình thái quả thể (số cánh/cụm, đường kính mũ nấm, chiều dài cuống nấm) và hiệu suất sinh học (HSSH, %).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel và IRRISTAT 5.0; sai khác giữa các giá trị trung bình được kiểm định theo tiêu chuẩn LSD ở mức ý nghĩa $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngành trồng nấm và đặc tính sinh học của nấm sò:

  • Tình hình sản xuất nấm: Trình bày sự gia tăng sản lượng nấm thế giới giai đoạn 1990-2012, trong đó Trung Quốc dẫn đầu (đạt 5,15 triệu tấn nấm xuất khẩu năm 2012). Sản lượng nấm sò (Pleurotus spp.) toàn cầu tăng từ 875,6 nghìn tấn năm 1997 lên 6.288 nghìn tấn năm 2010 (tăng 618%), Trung Quốc chiếm 85,7% thị phần thế giới. Tại Việt Nam, sản lượng nấm cả nước đạt khoảng 250.000 tấn/năm, giá trị xuất khẩu 25-30 triệu USD; nấm sò phân bố sản xuất chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc.
  • Đặc điểm sinh học và dinh dưỡng của nấm sò: Hệ thống hóa đặc điểm phân loại, vòng đời, hình thái quả thể qua 5 giai đoạn phát triển và ngưỡng sinh thái (nhiệt độ hệ sợi 10-35°C, nhiệt độ hình thành quả thể phân hóa tùy nhóm từ 5-30°C; ẩm độ cơ chất 60-65%; pH tối ưu 6,0-7,0; ánh sáng phân hóa quả thể 300-400 lux). Phân tích giá trị dinh dưỡng gồm protein (chiếm đến 38,7-47,42% chất khô), 17-18 loại acid amin (đủ 9 acid amin không thay thế), các khoáng chất (Ca, Fe, Zn, Mg, Mn, Se) và vitamin (đặc biệt là B1, B12). Giá trị dược liệu được dẫn chứng qua các nghiên cứu về hoạt chất $(1\rightarrow3)$-$\beta$-D-glucan ức chế tế bào ung thư, khả năng hạ huyết áp và giảm cholesterol máu ở động vật thí nghiệm.
  • Cơ chất lõi ngô trong trồng nấm: Tổng hợp các nghiên cứu tiền đề của Stanley H.O (2011), Adebayo E.A (2014), Bilal Sofi (2014), Lưu Minh Loan và Mạch Phương Thảo (2016) chứng minh tiềm năng sử dụng lõi ngô nghiền mịn bổ sung cám gạo cho năng suất sinh học ổn định và bã thải sau thu hoạch đạt tiêu chuẩn ủ phân hữu cơ (compost).

Vật liệu, nội dung và phương pháp

Chương này mô tả chi tiết nguồn vật liệu, trang thiết bị, quy trình chuẩn bị môi trường và phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Vật liệu thí nghiệm: Giống gốc nấm sò STM lưu giữ tại Bộ môn Công nghệ Vi sinh. Nguồn nguyên liệu thô gồm khoai lang, ngô ngọt, giá đỗ, nước dừa tươi, mùn cưa, bông phế loại, lõi ngô nghiền, cám gạo, cám mạch và bột nhẹ $\text{CaCO}_3$.
  • Thiết kế các nghiệm thức:
    • Thí nghiệm môi trường cấp 1: CT1 (dịch chiết giá đỗ + PDA), CT2 (dịch chiết ngô ngọt + PDA), CT3 (dịch chiết khoai lang + PDA), CT4 (nước dừa tươi + PDA), CT5 (đối chứng PDA tiêu chuẩn).
    • Phối trộn lõi ngô và mùn cưa: CT1 (đối chứng: 94% mùn cưa), CT2 (30% lõi ngô + 64% mùn cưa), CT3 (60% lõi ngô + 34% mùn cưa), CT4 (94% lõi ngô); tất cả bổ sung 5% cám mạch và 1% $\text{CaCO}_3$.
    • Phối trộn lõi ngô và bông hạt: CT1 (đối chứng: 94% bông hạt), CT2 (30% lõi ngô + 64% bông hạt), CT3 (60% lõi ngô + 34% bông hạt), CT4 (94% lõi ngô); tất cả bổ sung 5% cám gạo và 1% $\text{CaCO}_3$.
    • Phối trộn ba thành phần lõi ngô, mùn cưa và bông hạt: CT1 (đối chứng: 47% bông + 47% mùn cưa), CT2 (30% lõi ngô + 32% bông + 32% mùn cưa), CT3 (50% lõi ngô + 22% bông + 22% mùn cưa), CT4 (60% lõi ngô + 17% bông + 17% mùn cưa); tất cả bổ sung 5% cám gạo và 1% $\text{CaCO}_3$.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố và phân tích toàn bộ số liệu thu được từ các thực nghiệm:

  • Sinh trưởng hệ sợi trên môi trường cấp 1: Hệ sợi bắt đầu mọc từ ngày thứ 2 sau cấy. Môi trường đối chứng CT5 (PDA) cho tốc độ phát triển hệ sợi nhanh nhất (5,43 mm/ngày), thời gian ăn kín đĩa Petri ngắn nhất (5,85 ngày), mật độ sợi dày (++++). Nghiệm thức CT1 (giá đỗ + PDA) đạt tốc độ 5,05 mm/ngày, kín đĩa sau 6,50 ngày (sai khác không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng), mật độ sợi rất dày (+++++). Nghiệm thức CT4 (nước dừa + PDA) cho sinh trưởng kém nhất với tốc độ 3,20 mm/ngày và thời gian kín đĩa kéo dài đến 9,55 ngày.
Công thức môi trường cấp 1 Tốc độ hệ sợi (mm/ngày) Thời gian kín đĩa (ngày) Mật độ hệ sợi Đặc điểm hình thái hệ sợi
CT1 (Giá đỗ + PDA) 5,05 6,50 +++++ Trắng mượt, rõ đường vân, bám chặt giá thể
CT2 (Ngô ngọt + PDA) 4,73 6,85 ++++ Màu trắng, hơi bông ở giữa, rõ đường vân
CT3 (Khoai lang + PDA) 4,45 7,10 +++++ Trắng mượt, rõ đường vân, sinh trưởng đều
CT4 (Nước dừa tươi + PDA) 3,20 9,55 +++++ Trắng mượt, bông ở giữa, mọc đều 4 phía
CT5 (Đối chứng PDA) 5,43 5,85 ++++ Trắng mượt, hơi bông ở giữa, kín đĩa mướt
LSD 0,05 0,18 0,85 - -
CV (%) 2,60 0,70 - -
  • Sinh trưởng và tạo quả thể trên cơ chất phối trộn lõi ngô và mùn cưa: Tốc độ lan hệ sợi giảm dần khi tăng tỷ lệ lõi ngô (CT1 đạt 30,05 mm/ngày; CT4 đạt 23,83 mm/ngày). Tuy nhiên, mật độ hệ sợi ở các công thức giàu lõi ngô (CT3, CT4) lại đạt mức cao (+++), sợi trắng muốt, bám chắc vào cơ chất. Thời gian hình thành mầm quả thể và thu hái của các công thức có lõi ngô (CT2, CT3, CT4) diễn ra trong khoảng 45,46 - 46,95 ngày, rút ngắn khoảng 6 ngày so với đối chứng CT1 mùn cưa (51,08 ngày ra mầm và 52,34 ngày thu hái). Về năng suất, CT4 (94% lõi ngô) cho hiệu suất sinh học cao nhất, đạt 44,99%, gấp hơn 3,5 lần so với CT1 đối chứng (12,60%).
Công thức giá thể (Lõi ngô : Mùn cưa) Tốc độ sợi (mm/ngày) Thời gian kín bịch (ngày) Ra mầm quả thể (ngày) Bắt đầu thu hái (ngày) Số cánh/cụm (cánh) Chiều dài cuống (cm) Hiệu suất sinh học (%)
CT1 (0% ngô : 94% mùn cưa) 30,05 23,40 51,08 52,34 7,71 2,26 12,60
CT2 (30% ngô : 64% mùn cưa) 29,48 23,53 45,61 46,47 9,82 3,45 30,25
CT3 (64% ngô : 30% mùn cưa) 27,50 25,80 45,58 46,95 10,41 3,94 26,53
CT4 (94% ngô : 0% mùn cưa) 23,83 26,07 45,46 46,55 10,14 3,26 44,99
LSD 0,05 0,27 0,64 0,27 0,90 1,34 0,22 0,57
CV (%) 6,40 1,40 0,30 1,00 7,50 3,60 1,10
  • Sinh trưởng và tạo quả thể trên cơ chất phối trộn lõi ngô và bông hạt: Công thức CT2 (30% lõi ngô + 64% bông hạt) đạt tốc độ hệ sợi cao nhất (29,05 mm/ngày), kín bịch sau 22,80 ngày với mật độ sợi dày nhất (+++). Thời gian xuất hiện quả thể (41,04 ngày) và bắt đầu thu hái (42,56 ngày) của CT2 diễn ra sớm nhất, nhanh hơn công thức đối chứng CT1 (94% bông) tới 6 ngày. Hiệu suất sinh học đạt đỉnh ở CT2 với 60,70%, cao hơn đối chứng CT1 (55,27%) và vượt trội so với CT4 hoàn toàn lõi ngô (45,98%).
Công thức giá thể (Lõi ngô : Bông hạt) Tốc độ sợi (mm/ngày) Thời gian kín bịch (ngày) Ra mầm quả thể (ngày) Bắt đầu thu hái (ngày) Số cánh/cụm (cánh) Đường kính mũ (cm) Hiệu suất sinh học (%)
CT1 (0% ngô : 94% bông) 24,30 27,13 47,22 48,84 12,00 3,19 55,27
CT2 (30% ngô : 64% bông) 29,05 22,80 41,04 42,56 10,43 3,14 60,70
CT3 (64% ngô : 30% bông) 27,20 23,40 42,73 44,31 9,51 3,25 49,76
CT4 (94% ngô : 0% bông) 28,98 23,33 42,00 43,13 8,55 3,51 45,98
LSD 0,05 0,45 1,37 0,36 0,62 1,20 0,13 1,94
CV (%) 10,80 3,00 0,40 0,70 6,30 2,20 2,00
  • Nhóm phối trộn ba thành phần (kết quả tóm lược): Thí nghiệm phối trộn giữa lõi ngô, mùn cưa và bông hạt ghi nhận công thức đối chứng CT1 (47% bông + 47% mùn cưa + 5% cám gạo + 1% bột nhẹ) đạt tốc độ hệ sợi lớn nhất (33,28 mm/ngày) và hiệu suất sinh học cao nhất (71,10%).

Kết quả và đóng góp

Các kết quả định lượng cụ thể được rút ra từ nghiên cứu:

  • Ở cấp giống cấp 1, môi trường PDA truyền thống (CT5) vẫn là môi trường tối ưu cho tốc độ lan hệ sợi của chủng STM với 5,43 mm/ngày và thời gian ăn kín đĩa 5,85 ngày. Môi trường bổ sung dịch chiết giá đỗ (CT1) là giải pháp thay thế tốt với tốc độ 5,05 mm/ngày và tạo mật độ hệ sợi rất dày (+++++).
  • Đối với cơ chất lõi ngô kết hợp mùn cưa, công thức CT4 (94% lõi ngô + 5% cám mạch + 1% bột nhẹ) cho hiệu suất sinh học cao nhất đạt 44,99%, rút ngắn thời gian thu hái xuống 46,55 ngày (so với 52,34 ngày ở công thức 94% mùn cưa chỉ đạt HSSH 12,60%).
  • Đối với cơ chất lõi ngô kết hợp bông hạt, công thức CT2 (30% lõi ngô + 64% bông hạt + 5% cám gạo + 1% bột nhẹ) đạt hiệu quả toàn diện nhất: tốc độ sợi 29,05 mm/ngày, thu hái sớm nhất sau 42,56 ngày và hiệu suất sinh học đạt mức cao 60,70%.
  • Đối với cơ chất ba thành phần, tỷ lệ phối trộn giữa bông và mùn cưa (CT1: 47% bông + 47% mùn cưa) đạt hiệu suất sinh học cao nhất là 71,10% với tốc độ sợi 33,28 mm/ngày.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Để nuôi cấy giống cấp 1 đạt chất lượng tốt, nên ưu tiên sử dụng môi trường PDA nguyên bản hoặc bổ sung dịch chiết giá đỗ để tăng độ dày hệ sợi.
  • Trong sản xuất nấm sò quy mô trang trại, khi sử dụng nguồn phụ phẩm lõi ngô, tác giả khuyến nghị áp dụng công thức phối trộn CT2 (30% lõi ngô + 64% bông phế liệu + 5% cám gạo + 1% bột nhẹ) để tối ưu hóa thời gian thu hoạch và đạt hiệu suất kinh tế cao. Trong trường hợp không có nguồn bông hạt, có thể sử dụng công thức 94% lõi ngô nghiền kết hợp 5% cám mạch và 1% bột nhẹ mà không cần bổ sung mùn cưa.

Đóng góp của đề tài: Nghiên cứu khẳng định giá trị sử dụng trực tiếp của phế phụ phẩm lõi ngô nghiền làm cơ chất đơn lẻ hoặc phối trộn thay thế mùn cưa trong nuôi trồng nấm sò chủng STM. Kết quả này mở rộng các nghiên cứu trước đó của Lưu Minh Loan, Mạch Phương Thảo (2016) và Adebayo E.A (2014), cung cấp các thông số định lượng cụ thể về tốc độ sinh trưởng và các chỉ tiêu cấu thành năng suất của chủng nấm sò STM phục vụ quy trình trồng nấm tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế phát sinh trong quá trình thực nghiệm:

  • Do điều kiện cơ sở hạ tầng nhà xưởng tại thời điểm nghiên cứu chưa đảm bảo đồng bộ, thời gian chuyển bịch phôi ra nhà nuôi trồng chăm sóc quả thể bị chậm lại so với chu kỳ chuẩn. Do đó, các chỉ tiêu về thời gian xuất hiện mầm quả thể và thời gian bắt đầu thu hái chưa đạt được độ chính xác tuyệt đối.
  • Nghiên cứu chỉ giới hạn đánh giá trên một chủng nấm duy nhất (chủng STM) trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà xưởng mùa vụ từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2022, chưa đánh giá sự biến thiên năng suất qua các mùa vụ thời tiết khác nhau.
  • Hướng mở tiếp theo: Cần hoàn thiện điều kiện cơ sở hạ tầng nuôi trồng để chuẩn hóa chính xác thời gian phát sinh quả thể; khảo sát thêm các tỷ lệ phối trộn vi chất dinh dưỡng khác trên nền cơ chất lõi ngô và mở rộng khảo nghiệm trên các chủng nấm sò thương mại khác.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ Sinh học, Vi sinh vật học, Nông học và Trồng trọt đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về công nghệ nhân giống vi sinh, công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu.
  • Các cán bộ kỹ thuật, chủ trang trại sản xuất nấm ăn muốn tìm kiếm giải pháp kỹ thuật tái sử dụng phế phẩm lõi ngô nhằm giảm chi phí mua nguyên liệu mùn cưa hoặc bông phế liệu.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: quy trình ủ và xử lý ẩm hóa chất đối với lõi ngô nghiền bằng nước vôi (mục 3.2.2), phương pháp đánh giá định lượng tốc độ lan sợi và kiểm định thống kê nông học (mục 3.1 và 3.3), cùng hệ thống dữ liệu đối chứng chi tiết giữa các tỷ lệ phối trộn cơ chất.

Câu hỏi thường gặp

1. Môi trường nhân giống cấp 1 nào cho tốc độ sinh trưởng hệ sợi của chủng nấm sò STM nhanh nhất?
Môi trường PDA đối chứng (CT5) cho tốc độ sinh trưởng hệ sợi nhanh nhất, đạt 5,43 mm/ngày và lan kín đĩa Petri sau 5,85 ngày với mật độ sợi dày (++++). Môi trường bổ sung dịch chiết giá đỗ (CT1) xếp thứ hai với tốc độ 5,05 mm/ngày và thời gian kín đĩa là 6,50 ngày (sai khác không có ý nghĩa thống kê so với CT5), đồng thời cho mật độ sợi đạt mức rất dày (+++++).

2. Công thức phối trộn giữa lõi ngô và mùn cưa nào mang lại hiệu suất sinh học cao nhất?
Công thức CT4 gồm 94% lõi ngô + 5% cám mạch + 1% bột nhẹ cho hiệu suất sinh học cao nhất trong nhóm, đạt 44,99%. Ngược lại, công thức đối chứng CT1 (94% mùn cưa + 5% cám mạch + 1% bột nhẹ) chỉ đạt hiệu suất sinh học 12,60%.

3. Khi phối trộn lõi ngô với bông hạt, tỷ lệ phối trộn nào được tác giả lựa chọn là tối ưu nhất?
Tác giả lựa chọn công thức CT2 (30% lõi ngô + 64% bông hạt + 5% cám gạo + 1% bột nhẹ) là tối ưu nhất. Công thức này đạt tốc độ hệ sợi nhanh nhất (29,05 mm/ngày), thời gian ra mầm quả thể sớm nhất (41,04 ngày), thu hái sớm nhất (42,56 ngày) và đạt hiệu suất sinh học cao nhất trong nhóm phối trộn với 60,70%.

4. Quy trình xử lý sơ bộ nguyên liệu lõi ngô nghiền trước khi đóng bịch được tác giả thực hiện như thế nào?
Lõi ngô được nghiền nhỏ, tạo ẩm bằng nước vôi, tiến hành ủ đống trong thời gian 2-3 ngày, sau đó đảo đều đống ủ và tiếp tục ủ trong 10-15 ngày. Sau khi đạt độ ẩm chuẩn (kiểm tra bằng cách nắm chặt tay không bị vỡ khối), nguyên liệu được phối trộn với cám dinh dưỡng và bột nhẹ $\text{CaCO}_3$, đóng bịch 1,3 kg và hấp khử trùng ở 100°C trong 8-10 giờ.

5. Hạn chế kỹ thuật nào được tác giả tự ghi nhận làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu thời gian thu hái nấm?
Do điều kiện cơ sở hạ tầng nhà xưởng chưa đảm bảo, thời gian chuyển bịch phôi từ phòng nuôi sợi ra nhà nuôi trồng chăm sóc quả thể bị lùi lại so với kế hoạch chuẩn, dẫn đến các số liệu về thời gian xuất hiện mầm quả thể và thời gian bắt đầu thu hái chưa đạt được độ chính xác tuyệt đối.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Oanh đã xác định được các thông số sinh học quan trọng trong việc nhân giống cấp 1 và nuôi trồng chủng nấm sò STM trên cơ chất lõi ngô. Kết quả thực nghiệm khẳng định môi trường PDA và PDA bổ sung dịch chiết giá đỗ là môi trường nhân giống cấp 1 tốt nhất, đồng thời xác lập công thức phối trộn 30% lõi ngô + 64% bông hạt + 5% cám gạo + 1% bột nhẹ cho hiệu suất sinh học cao (60,70%) và thời gian thu hái ngắn (42,56 ngày). Công trình cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc tận dụng phụ phẩm lõi ngô trong sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nghề trồng nấm.