Đặt vấn đề Ngày nay, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao thì nhu cầu của con người về sức khỏe cũng được chú ý nhiều hơn. Thực phẩm là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến sức khỏe con người và việc sử dụng các loại nam có dược chất cao trong thực phẩm ngày càng phổ biến và được quân tâm. Trong đó, các loài thuộc chi Cordyceps được đánh giá rất cao do chứa nhiều hợp chất có vai trò quan trọng trong điều trị ung thư, chống oxy hóa, bảo vệ các cơ quan như gan, tim, thận, cải thiện giấc ngủ và tăng chất lượng tinh trùng (Das và cs. Ophiocordyceps sinensis (đồng nghĩa với Cordyceps sinensis) là một loại nam dược liệu có giá trị cao.
Tuy nhiên chất nền dé nuôi trồng chủng nam này không thê nuôi trồng nhân tao và chủng nam nay cũng đang được khai thác quá mức trong tự nhiên. Theo Shrestha và cộng sự (2012), Cordyceps militaris (hay nam sâu bướm màu cam) có dược chat tương tự như Ophiocordyceps sinensis, tuy nhiên chất nền của chủng nam này có thé dé dàng nuôi cấy. Do đó, Cordyceps militaris được nghiên cứu thay thé cho Ophiocordyceps sinensis. Theo những nghiên cứu ban đầu trên Thế giới về môi trường nuôi trồng Cordyceps militaris được thực hiện trên côn trùng chủ yếu là nhộng tằm.
Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp nuôi trồng này giá thành kinh tế cao, sản lượng thấp do không phải lúc nào cũng có sẵn côn trùng, ngoài ra côn trùng còn có thể bị nhiễm một số bệnh do vi sinh vật gây ra. Do đó, nghiên cứu lựa chọn môi trường thay thế nhộng tam bằng các hạt ngũ cốc hay chất hữu cơ khác là hoàn toàn can thiết. Theo Holliday và cộng sự (2004) cả ấu trùng, côn trùng và hạt ngũ cốc đều có thé thu được quả thé nam với các dược tính gần như tương đương. Các dược chat mà Cordyceps militaris mang lại quan trọng nhất phải nói đến là cordycepin và adenosine.
Với tác dụng hỗ trợ tốt trong quá trình điều trị ung thư, ức chế sự sinh trưởng của virus đặc biệt là ở đại dịch covid- 19, Cordyceps militaris được phép ứng dụng trong hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân (Guler và cs,. Hiện nay ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu nam Cordyceps militaris được sản xuất trên môi trường nhân tạo với các thành phần chính như gạo lứt, nguyên tố khoáng, bột nhộng tằm. Theo Nguyễn Minh Đức và cộng sự (2017), trong điều kiện nuôi cấy nhân tạo, sử dụng gạo lức làm cơ chất nền kết hợp với bột nhộng tằm và một số thành phần dinh dưỡng sẽ thu được qua thé nam Cordyceps militaris có sinh khối cao. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hằng và cộng sự (2023), môi trường thích hợp dé nuôi cấy Cordyceps militaris là môi trường kết hợp với bã đậu nành, peptone, cao nam men, KH20u, MgSO, và dịch nhộng tằm.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu nuôi trồng Cordyceps militaris trên môi trường cơ chất hữu cơ thực vật hiện đang được nghiên cứu, điển hình là nghiên cứu của Trần Thanh Thy (2019), tác giả đã cho thấy bé sung ngũ cốc đã qua sử dụng vào môi trường nuôi cấy làm tăng dược liệu cordycepin và andenosine. Qua đó, việc sử dụng các hợp chất hữu cơ thực vật có thê dùng đề thay thế côn trùng và phát triển sản phẩm theo hướng hữu cơ. Từ những lí do trên, đề tài “Khao sát sự ảnh hưởng của một số yếu tố dinh đưỡng lên sinh khối nam nhộng trùng thảo Cordyceps militaris” được đề xuất thực hiện nhằm tạo ra sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng. Muc tiêu đề tài Khảo sát sự ảnh hưởng của một số yếu tô dinh dưỡng đến sinh khối của nắm nhộng trùng thảo Cordyceps militaris.
Tìm được nguồn nguyên liệu phù hợp có thé thay thé cho nhộng tam trong nuôi trồng nam nhộng trùng thảo Cordyceps militaris. Nội dung thực hiện Nuôi trồng nam nhộng trùng thảo trên môi trường kết hợp giữa gạo lite và một trong năm yêu tố dinh dưỡng khác nhau bao gồm: Sữa tươi (không đường), bột mì, trứng gà, bột đậu phộng, bột yến mạch. Thu hoạch nắm sau khoảng 60 ngày nuôi cấy và đánh giá chỉ tiêu chiều dài thông qua đo và ghi nhận kết quả khi thu sợi nắm tươi ở từng nghiệm thức của các thí nghiệm. Chỉ tiêu khối lượng được cân đo sau khi thu toàn bộ sợi nam và tách bỏ dé nam (môi trường nuôi trồng nắm Cordyceps militaris).
Sau khi do các chỉ tiêu về chiều dài cũng như khối lượng nắm tươi thu được thì nam ở các nghiệm thức sẽ được mang đi say thang hoa trong vòng 36 giờ va cân kết quả nam sấy. Từ đó xử lí số liệu và thống kê kết quả. Từ kết qua đánh giá đưa ra kết luận yếu tố dinh dưỡng phù hợp trong quá trình nuôi cay nam nhộng trùng thảo Cordyceps militaris trên môi trường nhân tạo không sử dụng nhộng tằm hướng đến mục đích đa dạng thành phần sản xuất, giảm giá thành và đối tượng tiêu dùng là những người ăn chay. Téng quan về nắm nhộng trùng thảo Cordyceps militaris 2.
Vị trí và phần loại Giới: Fungi Ngành: Ascomycota Lớp: Sordariomycetes Bộ: Hypocreales Ho: Cordycipitaceae Chi: Cordyceps Loài: Cordyceps militaris Tén khoa hoc: Cordyceps militaris Tên thông thường: nam trùng thảo, nhộng trùng thao, nam sâu bướm cam. Nam nhộng trùng thảo Cordyceps militaris (Zheng và cs. Đặc điểm hình thái Cordyceps milifaris là loài nam kí sinh trên bướm hoặc sâu bướm. Nam có màu cam, có chiều đài từ 8 — 10 em.
Qua thé nam nhô lên từ xác các ấu trùng hoặc nhộng, mặt cắt ngang quả thể có màu cam nhạt, rỗng ở giữa bào tử nang hình sợi, không màu và phân đoạn, kích thước khoảng 3,5 — 6 x 1,5 um. Phân bố rộng ở Bac Mi, châu Âu và châu A (Paul và cs. Chu trình sống Giống như hầu hết các loài Cordyceps khác. Vào mùa đông, các bào tử theo gió dính vào bên ngoài kí chủ, sau đó hình thành các ống nảy mầm và có thể bám các ống này tiết ra các enzyme làm tan vỏ ngoài của vật chủ và xâm nhập vào bên trong cơ thé.
Sauu đó, sợi nắm phát triển và hút chất dinh dưỡng của vật chủ. Đến cuối hè hoặc đầu thu quả thê nhô ra ngoài (Kanble và cs. Phân bố Hiện tại có khoảng 400 loài thuộc chi Cordyceps được ghi nhận (Chaubey và cs. Sự phân bố của các chi Cordyceps chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới và ôn đới ầm.
Dựa vào điều kiện nhiệt độ và độ 4m, CCordyceps militaris thường phan bố ở độ cao 2000 — 3000 m so với mực nước biển. Theo John và cộng sự năm 2005, chi Cordyceps được tìm thấy ở cao nguyên núi Himalaya, Nepal, Nhật Bản, Việt Nam. Vật chủ và thành phần hóa học Nam Cordyceps militaris là loài được nghiên cứu kĩ nhất trong tat cả các loài của giống Cordyceps (Kobayashi và cs. Kí chủ phố biến của loài Cordyceps militaris trong tự nhiên bao gồm ấu trùng và nhộng của các loài bướm.
Ngoài ra, còn có các kí chủ khác như các loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh màng (Hymenoptera), và bộ hai cánh (Diptera) (Sung và Spatafora, 2004; Sung và cs., 2007; Wang và cs. Thành phan hóa học: Sinh khối của nam nhộng trùng thảo (Cordyceps militaris) chứa nhiều chất có hoạt chat sinh học có giá trị được liệu cao. Trong đó phải kế đến cordycepin, adenosine, hydroxyethyl — adenosine, acid cordyceptic, polysaccharides (Holliday và cs. Ngoài ra, trong qua thé của nắm Cordyceps militaris có chứa tat cả các acid amin thiết yếu, vitamin A, B, E, K.
lipid, protein và các nguyên khoáng như K, Na, Fe, Zn, Mg (John và cs. Một số hợp chat quan trọng: Cordycepin là hợp chất có khả năng kháng nam, kháng ung thư và kháng virus, là một hợp chất quan trọng của chi Cordyceps. Cordycepin lần đầu tiên được Cunningham và cộng sự tách chiết từ Cordyceps militaris vào năm 1950 (Cunningham và cs. Sau đó, hợp chất này cũng được tìm thấy ở loài Cordyceps sinensis va Cordyceps Kyushuensis (Ling và cs.
Mặc du cordycepin có thê tổng hợp hóa học, tuy nhiên sản lượng thu được thấp và quy trình phức tạp. Khi thu nhận trong tự nhiên, nồng độ cordycepin trong qua thê Cordyceps militaris là 2,56mg/g, cao hơn nồng độ cordycepin có trong Cordyceps sinensis (0,98 mg/g). Khi nuôi cay Cordyceps militaris trong các bình lên men, hàm lượng cordycepin thu được là 0,90 mg/g tương đương với hàm lượng thu được từ Cordyceps sinensis trong tựu nhiên (Lo và cs. Nhiều nghiên cứu chứng minh cordycepin có kha năng điều hòa sản phẩm của interleukins trong tế bao lympho T và tham gia điều hòa miễn dịch (Zhou và cs.
Cordycepin ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh Clostridium paraputrificum và Clostridium perfringens dựa trên tac dụng gây độc tế bào thông qua methyl hóa acid nucleic, nhưng không có tác dụng gây hai tới vi khuẩn có lợi như Bifidobacterium sp. và Lactobacillus sp. (Lu và cs. Nghiên cứu năm 2015 của Ma và cộng sự chứng minh cordycepin có khả năng giúp hạ đường huyết và điều hòa chuyển hóa glucose ở gan chuột bị tiểu đường (Ma và cs.
Adenosine được cho là có tác dung điều hòa miễn dich, bảo vệ tim mạch, giúp cải thiện tuần hoàn ngoại biên và tim mạch. Cải thiện năng lực cho cơ bắp, giảm sinh trưởng của các tế bào thoái hóa, tang lượng oxy trong máu, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa năng lượng của cơ thê (Shashidhara và cs. Adenosine xuất hiện khá nhiều trong qua thé và có mặt trong hau hết các loài thuộc chi Cordyceps với hàm lượng dao động từ 0,28 tới 1,41 mg/g. Adenosine trong quả thé của Cordyceps militaris chiém 2,45 mg/g, trong khi adenosine 6 Cordyceps sinensis chi chiém 1,64 mg/g.
Nuôi cay Cordyceps militaris trong các bình lên men thu được adenosine với nồng độ 1,59 mg/g, tương đương với lượng adenosine thu được từ Cordyceps sinensis trong tự nhiên (Huang và cs. Acid cordyceptic là một đồng phân của acid quinic. Acid cordyceptic được tìm thay đầu tiên ở Cordyceps sinensis vào năm 1957. Cau trúc tinh thé của acid cordyceptic được xác định là D — mannitonl.
Mannitol có câu tạo gồm một acohol và một đường, hoặc một polyol, tương tự như xylitol hay sorbitol. Tuy nhiên, mannitol có xu hướng loại bỏ ion hydrogen trong nước làm dung địch trở nên acid. Mannitol tồn tại trong tự nhiên chủ yếu ở rễ, thân và lá cây, được tìm thấy nhiều trong nấm ăn, cà rốt và rêu. Mannitol có nhiều hoạt tính quan trọng như kháng sốc tự đo, lợi tiểu, trị ho.
Mannitol có nhiều đặc tính quan trọng đã được sử dụng trong y học và thực phẩm. Hàm lượng mannitol có trong quả thé nam Cordyceps vào khang 29 — 85 mg/g, sợi nam có hàm lượng acid cordyceptic cao hơn so với trong quả thé (Zhou va cs.