PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động OFDI của các NHTM trên thế giới và cả tại Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Dòng vốn OFDI quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tăng đều hàng năm và ở mức khá cao trong giai đoạn 2009-2020. Các ngân hàng toàn cầu vẫn không ngừng mở rộng cả về quy mô và phạm vi.
Tại Việt Nam, hoạt động OFDI của các NHTM Việt nam từ năm 2009 có sự đột phá. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tốc độ tăng trưởng vốn đăng ký trong lĩnh vực ngân hàng tài chính giai đoạn 2009-2019 đạt mức bình quân 22,3%/năm. Số lượng ngân hàng có OFDI cũng tăng từ 4 ngân hàng năm 2009 lên 7 ngân hàng đến cuối năm 2019. Điển hình các NHTM thực hiện OFDI có thể kể đến như NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), Sài gòn Hà nội (SHB), Sài gòn Thương tín (sacombank).
Những ngân hàng này đang có tổ hợp hiện diện tại nước ngoài khá đa dạng và hoạt động bài bản. Đặc biệt, trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2015, hoạt động OFDI của các ngân hàng mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do nền kinh tế trong nước biến động, tình hình kinh tế các quốc gia nhận đầu tư cũng khó khăn… nhưng vốn đăng kỳ hàng năm vẫn đều đặn tăng. Từ năm 2018, hoạt động OFDI có tín hiệu lạc quan khi NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã mở ngân hàng con tại Lào. Điều này cho thấy sức hấp dẫn của hoạt động OFDI đối với nhiều ngân hàng Việt Nam.
Mặc dù vậy, về mặt học thuật, các nghiên cứu về quan hệ giữa OFDI và hiệu quả mang lại từ hoạt động này đối với các NHTM cả trên thế giới và tại Việt nam vẫn còn nhiều câu hỏi cần trả lời. Trên phạm vi thế giới, (1) hầu hết các nghiên cứu đều chỉ sử dụng các chỉ tiêu kết quả tài chính làm biến đại diện cho kết quả OFDI mang lại như ROA, ROE, ROS, P/E…Trong khi đó lý thuyết về công ty đa quốc gia cho thấy những lợi ích chính hoạt động OFDI mang lại là: cơ hội giảm chi phí nhờ lợi thế theo quy mô và lợi thế theo phạm vi, cơ hội đạt được lợi thế trong cạnh tranh, lợi ích từ đa dạng hóa, giảm rủi ro và thúc đẩy tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực quản lý. Những lợi ích này được đại diện bởi chỉ tiêu hiệu quả hoạt động sẽ chính xác và phù hợp hơn so với chỉ tiêu kết quả tài chính. Cũng vì vậy nên (2) kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa OFDI và hiệu quả tài chính mang lại của hoạt động này đến nay chưa được xác định thống nhất.
Cụ thể là các nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ OFDI và kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM cho thấy có đến 5 dạng đường biểu diễn gồm: dạng tuyến tính thuận chiều, dạng tuyến tính ngược chiều, dạng chữ U, dạng chữ U ngược 2 và dạng chữ S nằm ngang. Hơn nữa, (3) do hạn chế về thông tin công bố nên các nghiên cứu thường sử dụng mẫu là các ngân hàng toàn cầu có tỷ trọng tài sản tại thị trường nước ngoài lên đến trên 20% như HSBC, CitiBank mà bỏ qua các NHTM đang trong giai đoạn đầu của quá trình OFDI với tỷ trọng tài sản tại thị trường nước ngoài hạn chế. Tại Việt Nam, những nghiên cứu về chủ đề này khá hạn chế. Hầu hết các nghiên cứu tại Việt nam chỉ tập trung vào giác độ tổng thể dòng vốn OFDI của Việt nam.
Nghiên cứu trên giác độ công ty rất ít và chỉ tập trung vào phân tích hoạt động OFDI chung của các doanh nghiệp Việt nam. Những nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động OFDI với kết quả nói chung và hiệu quả hoạt động nói riêng, hiệu quả chưa có. Về mặt thực tiễn tại Việt nam, trái với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô vốn OFDI, hiệu quả kinh doanh tại thị trường nước ngoài của các NHTM Việt Nam lại khá hạn chế. Cụ thể trong giai đoạn từ 2013-2018, số lượng dự án giảm, tỷ lệ nợ xấu tại thị trường nước ngoài của các ngân hàng tăng lên và lợi nhuận biến động.
Ví dụ như tại thị trường Campuchia, vị thế thị trường của các ngân hàng Việt Nam đều sụt giảm từ vị trí top 5 xuống ngoài top 10. Tăng trưởng tín dụng trung bình các ngân hàng chỉ dưới 5%/năm trong khi đó trung bình các ngân hàng Campuchia lên đến 23- 40%/năm. Vậy đâu là cở sở để các ngân hàng Việt nam vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu mở rộng hoạt động kinh doanh tại nước ngoài. Quan trọng hơn, việc kiên trì theo đuổi chiến lược mở rộng hoạt động OFDI của các NHTM Việt Nam hiện nay có thực sự là chính xác, phù hợp ? Vấn đề mấu chốt để trả lời câu hỏi này là tác động của hoạt động OFDI đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng ra sao ? Đây là những câu hỏi mang tính định hướng chiến lược quan trọng đang được các NHTM Việt Nam đặt ra.
Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa OFDI với hiệu quả hoạt động tổng thể của các ngân hàng sẽ giúp đánh giá đầy đủ, toàn diện hơn tác động của OFDI đến kết quả hoạt động kinh doanh tổng thể của các ngân hàng. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ giúp các NHTM Việt nam xác định định hướng chiến lược đối với mảng kinh doanh tại thị trường nước ngoài trong thời gian tới. Đối với các ngân hàng đang có hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài, kết quả nghiên cứu sẽ giúp các quyết định tái cấu trúc, rút lui, duy trì hay tiếp tục mở rộng được xác định trên cơ sở chắc chắn hơn. Đối với các ngân hàng chưa có hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài nhưng đang có nghiên cứu, xem xét tham gia, kết quả nghiên cứu sẽ giúp 3 các ngân hàng này có thêm thông tin tốt hơn để đánh giá khi đưa ra quyết định cuối cùng.
Với lý do trên, đề tài “Tác động hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Xác định được mối quan hệ tác động của OFDI đến hoạt động kinh doanh tổng thể của các NHTM Việt Nam (là những ngân hàng đang trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài) thông qua chỉ tiêu hiệu quả hoạt động. Từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao tác động tích cực của OFDI đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây: - Hệ thống các lý thuyết về tác động của OFDI tới hiệu quả các công ty nhằm hiểu rõ về cơ chế tác động.
- Rà soát thực trạng OFDI của các NHTM VN giai đoạn 2009-2020 nhằm xác định chỉ tiêu phù hợp sử dụng trong mô hình đánh giá tác động của OFDI đến hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam. - Phân tích, đánh giá tác động của OFDI tới chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt nam có hoạt động OFDI. - Đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với các NHTM Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu này trả lời câu hỏi sau: - Thực trạng hoạt động OFDI của các NHTM Việt Nam hiện nay ? - Có mối quan hệ thuận chiều giữa mức độ OFDI với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam có hoạt động OFDI ? 4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa OFDI đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt nam 4 Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: là toàn bộ các NHTM Việt nam có hoạt động OFDI. Trong đó hoạt động OFDI được xác định trên tiêu chí là có hình thức hiện diện dưới dạng chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài, thành lập liên doanh tại nước ngoài và ngân hàng con tại nước ngoài. Về thời gian: Từ quý 2/2009 đến quý 2/2020. Về nội dung: - Do không có quy định bắt buộc các NHTM phải công bố thông tin về hoạt động, kết quả kinh doanh tại thị trường nước ngoài nên những số liệu thông tin liên quan đến hoạt động này thường rất khan hiếm.
Những thông tin được công bố do chủ quan của các NHTM. Vì vậy những số liệu, thông tin được trình bày trong luận án bị giới hạn trong phạm vi những thông tin được công bố của các NHTM. Tương tự, những tình huống, nội dung được trình bày trong luận án cũng bị giới hạn trong phạm vi được sự cho phép của người cung cấp. Hệ quả là một số nội dung luận án có những số liệu chưa được cập nhật đến thời điểm gần nhất.
Tuy nhiên đây là những số liệu mới nhất được công bố và có thể sử dụng được. - Bên cạnh đó luận án cũng giới hạn: (1) hiệu quả hoạt động sử dụng để đánh giá là hiệu quả tổng thể của ngân hàng và được giới hạn trong các chỉ số hiệu quả Färe-Primon index; (2) mức độ OFDI được giới hạn đo lường bởi chỉ tiêu đơn là chỉ tiêu dư nợ tại thị trường nước ngoài trên tổng dư nợ của ngân hàng. Nguyên nhân do hạn chế về dữ liệu được các NHTM công bố. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết được câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp cả định tính và định lượng.
Trong đó: Phương pháp định lượng: luận án sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và dữ liệu bảng cho các NHTM Việt Nam có thực hiện OFDI với sự hỗ trợ của phần mềm stata.