Chương 1: Giới thiệu. Chương này nêu lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Chương trình này trình bày tổng quan về khả năng sinh lời và rủi ro và các lý thuyết về mối quan hệ giữa chúng, các nghiên cứu trước về tác động của rủi ro đến khả năng sinh lời và tác động của khả năng sinh lời đến rủi ro trong hoạt động của ngân hàng và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày rõ mô hình nghiên cứu, cách đo lường các biến, cách thu thập dữ liệu và chọn mẫu, phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy cùng với kết quả kiểm định các giải thiết của mô hình và trình bày phần thảo luận về kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các khuyến nghị dựa trên các kết luận đã nêu. Trong chương cũng nêu lên hạn chế của luận văn trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. z 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 2.
Giới thiệu về khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng 2. Khả năng sinh lời Khả năng sinh lời của ngân hàng được phản ánh qua các chỉ tiêu chủ yếu như: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA); tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM); tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên và một số tỷ lệ khác. ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng quản trị của ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỉ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các thước đo chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí (Rose, 1999). Có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để xác định các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng của một quốc gia hay một nhóm các nước trong những khoảng thời gian khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng sinh lời của ngân hàng chịu tác động bởi các yếu tố bên trong ngân hàng và các yếu tố bên ngoài liên quan đến tình hình kinh tế vĩ mô. Yếu tố bên trong bao gồm rủi ro ngân hàng (rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất…) và các yếu tố thuộc đặc điểm ngân hàng (quy mô ngân hàng, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, mức độ đa dạng hóa thu nhập…).
Yếu tố bên ngoài là các yếu tố vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế… Trong các nghiên cứu trước đây, khả năng sinh lời của ngân hàng được đo lường qua các chỉ tiêu như: ROA, ROE (Athanasoglou và ctg, 2005; Athanasoglou và ctg, 2008; Tafri và ctg, 2009; Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015); ROA (Sufia và Chong, 2008); ROAA, ROAE (Said và Tumin, 2011); ROA, ROE, NIM (Ruziqa, 2013). Như vậy, đa số các nghiên cứu về khả năng sinh lời thường được đo lường bằng 2 chỉ tiêu chính là ROA và ROE. Rủi ro của ngân hàng Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Trần Huy Hoàng, 2011).Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tác nghiệp, rủi ro hối đoái, rủi ro vỡ nợ, rủi ro pháp lý và nhiều rủi ro khác. Theo Athonasoglou (2008) sự cần thiết của việc quản lý rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng là điều vốn có trong bản chất của kinh doanh ngân hàng, chất lượng tài sản thấp và mức độ thanh khoản thấp là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của ngân hàng.
Hơn thế nữa, đây cũng là hai loại rủi ro đặc thù trong hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Do đó, luận văn chủ yếu tập trung vào hai loại rủi ro chính là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Rủi ro thanh khoản Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) rủi ro thanh khoản phát sinh từ sự bất lực của một ngân hàng để ứng phó với sự sụt giảm của nợ phải trả hay để tài trợ cho sự tăng lên của tài sản. Khi một ngân hàng có thanh khoản không đầy đủ thì không thể có đủ nguồn tài trợ bằng việc tăng nợ phải trả hay bằng việc chuyển đổi các tài sản một cách nhanh chóng với một chi phí hợp lý do đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Theo Tafri và ctg (2009), Dimitropoulos và ctg (2010) rủi ro thanh khoản là rủi ro của việc ngân hàng không đủ tiền mặt hay không có khả năng vay mượn để đáp ứng nhu cầu rút tiền gởi hay nhu cầu vay mới của khách hàng. Theo Trần Huy Hoàng (2011) rủi ro thanh khoản là rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng các yêu cầu của hợp đồng thanh toán. Theo Rose (1999) các ngân hàng cũng rất quan tâm tới sự nguy hiểm của tình trạng thiếu tiền mặt và không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu rút z 8 tiền gửi, yêu cầu vay vốn và những yêu cầu về tiền mặt khác. Đối mặt với rủi ro thanh khoản, một ngân hàng có thể buộc phải vay “nóng” với mức chi phí quá cao để chi trả cho những yêu cầu tiền mặt cấp bách và do vậy làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Việc tăng cường sử dụng nguồn vốn vay rất có thể gây ra rủi ro thanh khoản nếu như nhu cầu rút tiền gửi tăng và chất lượng của các khoản cho vay giảm. Rủi ro thanh khoản được đo lường bằng nhiều cách và qua các chỉ tiêu khác nhau. Theo Rose (1999) rủi ro thanh khoản được đo lường qua 04 chỉ tiêu sau: tỷ số giữa các khoản vay của ngân hàng so với tổng tài sản, tỷ số giữa cho vay ròng so với tổng tài sản, tỷ số giữa tiền mặt và số dư tiền gửi tại các ngân hàng khác so với tổng tài sản, tỷ lệ giữa khoản mục tiền mặt và chứng khoán chính phủ so với tổng tài sản. Đặc biệt trong các nghiên cứu gần đây rủi ro thanh khoản được đo lường gián tiếp thông qua tỷ lệ thanh khoản như trong nghiên cứu của Tafri và ctg (2009) và Ruziqa (2013) rủi ro thanh khoản được đo lường bằng tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng nợ phải trả.
Các nghiên cứu này cho rằng tỷ lệ tài sản thanh khoản càng cao cho thấy rủi ro thanh khoản càng thấp. Rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011) rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng. Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/213 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Đối với một ngân hàng, cho vay là hoạt động chính và đem lại lợi nhuận chủ yếu nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro rất lớn.
Theo Dimitropoulos và ctg (2010) rủi ro tín dụng là nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Vì hầu hết tài sản của ngân hàng là dưới hình thức các khoản cho vay, do đó bất kể vấn đề nào phát sinh từ sự không có z 9 khả năng thực hiện nghĩa vụ của người vay có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của ngân hàng. Các dấu hiệu của các khoản vay chất lượng kém bao gồm nợ xấu, khoản vay bị thiệt hại và khoản vay được phân loại ở nhóm cao. Cụ thể là một tỷ lệ cho vay cao so với tài sản hoặc sự tăng trưởng nhanh của danh mục cho vay có thể là dấu hiệu cảnh báo về vấn đề chất lượng các khoản cho vay.
Theo Rose (1999) có 4 chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng, bao gồm: Tỷ số giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê, tỷ số giữa các khoản xóa nợ ròng so với tổng cho vay và cho thuê, tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu, tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu. Khi 2 chỉ tiêu đầu tăng, rủi ro của ngân hàng cũng gia tăng, ngân hàng có thể đứng bên bờ vực phá sản. Trong khi đó 2 chỉ tiêu cuối cùng lại nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập hiện tại. Trong các nghiên cứu trước đây, rủi ro tín dụng thường được đo lường qua 02 chỉ tiêu: tỷ lệ nợ xấu (Ruziqa, 2013; Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015) và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (Shen và ctg, 2009; Tafri và ctg, 2009; Athanasoglou và ctg, 2008; Sufian và Chong, 2008; Dietrich và Wanzenried, 2014).
Lý thuyết về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và rủi ro 2.