CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN RỦI RO VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Cơ sở lý luận về đa dạng hóa thu nhập của NHTM 1. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập của NHTM Theo lý thuyết danh mục đầu tư, đa dạng hoá là một trong những chiến lược quan trọng trong đầu tư. Việc tối ưu hóa lợi nhuận nhờ tận dụng các cơ hội đầu tư khác nhau và giảm thiếu rủi ro trong danh mục đầu tư đạt được bằng cách tập trung vào việc phân bổ tài sản đầu tư.
Khi đó, sự biến động của một nguồn thu nhập có thể được bù đắp bằng sự ổn định hoặc tăng trưởng của các nguồn thu nhập khác. Do đó, đa dạng hoá giúp nhà đầu tư tăng cường khả năng chịu đựng rủi ro và đạt được lợi nhuận ổn định trong dài hạn (Markowitz, 1952). Thuật ngữ đa dạng hóa, theo Ansoff (1957), thường gắn với việc thay đổi các đặc điểm dòng sản phẩm hoặc thị trường. Khái niệm này khác với đa dạng hóa đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm trong chiến lược xâm nhập thị trường, phát triển thị trường hay phát triển sản phẩm.
Đối với các doanh nghiệp nói chung, đa dạng hóa là một cách để mở rộng lĩnh vực kinh doanh chính của mình vào các thị trường sản phẩm khác khi muốn kinh doanh đồng thời trong hai hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ cách hiểu đó, đa dạng hóa trong ngành ngân hàng là khi các ngân hàng mở rộng kinh doanh của mình vào thị trường sản phẩm dịch vụ khác nhau để tăng thu nhập từ lãi và thu nhập truyền thống. Theo Rose và Hudgins (2008), việc đa dạng hoá thu nhập của ngân hàng được thể hiện thông qua việc thay đổi tỷ lệ giữa thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng bằng cách gia tăng các sản phẩm tài chính và dịch vụ. Đây được coi là quá trình ngân hàng chuyển từ hoạt động tín dụng sang phi tín dụng, tập trung khai thác vào lĩnh vực kinh doanh thương mại (đầu tư chứng khoán, kinh doang ngoại hối, góp vốn mua cổ phần, v.v), các hoạt động tạo phí và hoa hồng (thu phí dịch vụ, bán bảo hiểm, v.
Nếu ngân hàng chỉ có thu nhập từ lãi, doanh thu của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong bối cảnh biến động của thị trường và sự thay đổi của môi trường kinh doanh, do đó, đây cũng được xem là một cách để giảm thiểu rủi ro và tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho ngân hàng. 9 Tổng quát lại, đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng là việc ngân hàng phân chia tỷ trọng giữa nguồn thu nhập lãi và phi lãi, giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động cho vay và lãi suất mà thay vào đó là gia tăng các nguồn thu nhập ngoài lãi bằng cách mở rộng sang mảng kinh doanh phi truyền thống. Để đa dạng hóa thu nhập của mình, các ngân hàng đã mở rộng kinh doang sang các mảng như dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới đầu tư chứng khoán, hoa hồng đại lý, liên kết với các công ty bảo hiểm để phân phối các sản phẩm Bancassurance. Đa dạng hóa thu nhập khác cũng bao gồm phát triển các sản phẩm và dịch vụ tài chính cho thị trường ngoại hối, kinh doanh ngoại tệ, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng quốc tế,.
Ngoài ra, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, đa dạng hóa ngân hàng còn được biểu hiện ở việc các ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến như Internet banking, Mobile banking,. Thông qua việc đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, những sản phẩm, dịch vụ này góp phần mở rộng thị trường, tăng cường sức cạnh tranh, ổn định thu nhập và bảo vệ ngân hàng khỏi các rủi ro kinh tế. Phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập của NHTM Thông qua việc xem xét những bài viết trước đây về đa dạng hóa thu nhập, Asif và Akhter (2019) đã chỉ ra rằng: 29% nghiên cứu sử dụng chỉ số Herfindahl Hirschman (HHI) và 44% nghiên cứu sử dụng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi để đánh giá mức độ đa dạng hóa thu nhập tại các ngân hàng. Bên cạnh hai thước đo chính được sử dụng nêu trên, nghiên cứu này còn đề cập đến các thành phần của thu nhập ngoài lãi cùng với tỷ lệ thu nhập ngoài lãi.
Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Có nhiều cách để phân loại thu nhập của ngân hàng theo các tiêu chí khác nhau, tuy nhiên cách phân loại phổ biến và đơn giản nhất là chia thu nhập thành hai loại: thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi (Gurbuz và các cộng sự, 2013). Trong đó, thu nhập ngoài lãi được chia thành 4 thành phần chính: Thu nhập ủy thác (fiduciary income) được tạo ra từ các hoạt động ủy thác vận hành; Phí dịch vụ (service charges) liên quan trực tiếp đến tài khoản tiền gửi; Thu nhập đầu tư kinh doanh (trading revenue); Phí và thu nhập khác (fees and other income) như phí cam kết cho vay, két 10 an toàn, hoa hồng và tiền thuê đất (Meslier và cộng sự, 2014). Ngoài ra, một cách phân loại khác được đề xuất bởi Elsas và các cộng sự (2010) là chia thu nhập của ngân hàng thành bốn loại: thu nhập từ lãi, thu nhập từ phí dịch vụ (commission revenue), thu nhập từ kinh doanh, đầu tư (trading revenue) và thu nhập khác. Theo nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC, thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự (các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lãi từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng); thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác.
Trên báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam, thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, đầu tư, mua bán chứng khoán, kinh doanh ngoại hối, góp vốn, mua cổ phần và các hoạt động khác được trình bày trên cơ sở thuần, do đó, thu nhập ngoài lãi thuần của các NHTM Việt Nam trong khóa luận này được tính như sau: Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ + Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + Thu nhập thuần từ hoạt động khác + Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng thường được sử dụng để đo lường đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng trong các nghiên cứu liên quan như Stiroh (2004b), Lepetit và cộng sự (2008), Lee và cộng sự (2014), Batten và Võ Xuân Vinh (2016). Tỷ lệ này được tính như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎâ𝑝 ̣ 𝑡ℎ𝑢â𝑛̀ 𝑛𝑔𝑜𝑎̀̀𝑖 𝑙𝑎̀𝑖 𝑁𝑂𝑁 = ̉ 𝑇ô𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎâ𝑝̣ 𝑡ℎ𝑢â𝑛 Với giả thiết các khoản thu nhập thuần đều dương thì tỷ lệ NON có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị của NON càng cao thì đa dạng hóa thu nhập càng cao. Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman Chỉ số Herfindahl Hirschman (HHI) là thước đo phổ biến về sự tập trung của thị trường, thường được ứng dụng mở rộng để xác định khả năng cạnh tranh thị trường 11 nói chung và đo lường mức độ tập trung của các nguồn thu nhập của ngân hàng nói riêng.
HHI được tính bằng tổng các bình phương thị phần của mỗi công ty cạnh tranh trong một thị trường. Trong ngân hàng, các thành phần thu nhập thường gồm hai phần cơ bản là lãi và phi lãi. Do đó, mức độ tập trung thu nhập trong ngân hàng thông qua chỉ số này có thể công thức như sau: 𝑁𝐼𝐼 2 𝑁𝑁𝐼𝐼 2 HHI = (INT2 + NON2) = 1 - [( ) +( )] 𝑁𝑂𝐼 𝑁𝑂𝐼 Trong đó: INT: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần NON: Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần NII (Net Interest Income): Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi - Chi phí lãi NNII (Net Non Interest Income): Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi - Chi phí ngoài lãi = Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư + Thu nhập thuần khác NOI (Net Operating Income): Tổng thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi Với giả thiết các khoản thu nhập thuần đều dương thì HHI có giá trị từ 0,5 đến 1. Khi HHI có giá trị bằng 0,5 nghĩa là đa dạng hóa hoàn toàn, trong khi HHI bằng 1 nghĩa là mức thấp nhất của đa dạng hóa thu nhập.
Như vậy, HHI càng cao nghĩa là các ngân hàng có sự tập trung nguồn thu nhập càng cao, đồng nghĩa đa dạng hóa thu nhập càng thấp. Đây là cách tính được ứng dụng trong các nghiên cứu của Sanya và Wolfe (2011), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015). Cũng dựa trên chỉ số HHI nhưng để dễ dàng hơn trong việc giải thích ý nghĩa chỉ số đa dạng hóa thu nhập cao thì đa dạng hóa càng hoàn hảo nên các nghiên cứu trước còn sử dụng cách tính chỉ số đa dạng hóa thu nhập (DIV) theo nghiên cứu của Stiroh và Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008). Mức độ đa dạng hóa thu nhập được tính thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman như sau: 𝑁𝐼𝐼 2 𝑁𝑁𝐼𝐼 2 DIV = 1 – HHI = 1 - (INT2 + NON2) = 1 - [( ) +( )] 𝑁𝑂𝐼 𝑁𝑂𝐼 Vì HHI có giá trị từ 0,5 đến 1 nên DIV có giá trị từ 0 đến 0.
Chỉ số DIV càng cao, càng gần 0.5 thì đa dạng hóa thu nhập càng cao. Khi DIV bằng 0 nghĩa là tất cả thu nhập ngân hàng đều chỉ từ một nguồn (tức là tập trung hoàn toàn, đa dạng hóa 12 thấp nhất), trong khi DIV bằng 0.5 nghĩa là có sự chia đều giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi (tức là đa dạng hóa hoàn toàn).