Chương 1 của khóa luận tác giả đã trình bày về tầm quan trọng của tín dụng đối với các NHTM cũng như trình bày lý do và tính cấp thiết trong việc giải quyết các vấn đề phải đối mặt với yếu tố ảnh hưởng của RRTD của các NHTM Việt Nam. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng xác định mục tiêu cụ thể và rõ ràng, làm cơ sở cho việc đặt ra các câu hỏi nghiên cứu phù hợp nhằm tìm hiểu về các yếu tố tác động đến RRTD. Tác giả cũng xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như khái quát về phương pháp nghiên cứu. Cuối cùng, tác giả trình bày về những đóng góp của đề tài và các ý chính của từng chương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng đóng vai trò then chốt trong hệ thống NHTM, được xem là chức năng cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tín dụng là một phạm trù kinh tế có mối quan hệ mật thiết với quá trình sản xuất hàng hóa, xuất hiện và phát triển song song cùng với nền kinh tế hàng hóa, đóng vai trò như một động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển.
Lịch sử ghi nhận sự đa dạng về hình thức và quan niệm của tín dụng qua các giai đoạn kinh tế - xã hội khác nhau. Nhìn chung, tín dụng ngân hàng có thể được hiểu theo những khái niệm cơ bản sau: Dương Thị Hoàn (2020) cho rằng “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và khách hàng trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, dựa trên nguyên tắc có hoàn trả”. Bùi Diệu Anh (2022) cho rằng “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Tóm lại, tín dụng ngân hàng là hoạt động vay mượn tiền hoặc tài sản có giá trị tương đương giữa hai bên: bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng).
Hoạt động này được thực hiện dựa trên hợp đồng tín dụng, trong đó quy định rõ ràng các điều khoản và điều kiện của khoản vay, bao gồm: số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức hoàn trả, tài sản đảm bảo (nếu có),. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, bên vay sẽ nhận được số tiền hoặc tài sản vay từ ngân hàng và có nghĩa vụ thực hiện thanh toán đầy đủ vốn vay và lãi vay cho ngân hàng theo quy định của hợp đồng đã ký kết. Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế, là dịch vụ chủ lực của các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cụ thể, tín dụng ngân hàng đảm nhận những vai trò như sau: Thứ nhất, tín dụng phát huy vai trò chủ đạo trong việc cung cấp và tạo nguồn vốn cho các HĐKD, góp phần điều tiết mối quan hệ cung cầu vốn trong lĩnh vực kinh tế.
Hệ thống ngân hàng hoạt động như trung gian, thực hiện chức năng huy động vốn từ các cá nhân, tổ chức có nguồn vốn dư thừa (bên cho vay) và cho vay lại những cá nhân, tổ chức có mục đích vay vốn (bên vay) với nguyên tắc có hoàn trả. Nhờ vậy, các nguồn vốn nhàn rỗi được sử dụng hiệu quả và sinh lợi cho cả hai bên tham gia. Đối với những người có nguồn vốn dư thừa, tín dụng tạo cơ hội gia tăng thu nhập thông qua lãi suất cho vay. Nhờ đó, thay vì mạo hiểm rót vốn vào các kênh tiềm ẩn khả năng tổn thất do rủi ro lớn, nguồn vốn nhàn rỗi được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả để sinh lời.
Nhờ có tín dụng, nguồn lực tài chính được phân bổ hiệu quả hơn đến những người thiếu vốn, giúp họ có cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế và mở rộng thị trường, từ đó tạo ra việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội. Thông qua đó, nguồn vốn được phân bổ hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Thứ hai, tín dụng là công cụ hữu hiệu giúp chính phủ truyền tải chính sách tiền tệ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng như hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư và sản xuất ra nhiều sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Hoạt động này góp phần mở rộng thị trường lao động, tạo điều kiện cho người lao động có việc làm ổn định, thu nhập được cải thiện, đồng thời giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội.
Bên cạnh đó, tín dụng cũng được sử dụng để điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế và duy trì giá cả thị trường ổn định. Ngoài ra, tín dụng cũng cung cấp vốn cho các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh mẽ, góp phần gia tăng GDP và nâng cao đời sống cho người dân. Nhà nước có thể điều chỉnh chính sách tín dụng 10 phù hợp bằng cách tác động đến lãi suất, thay đổi quy định về điều kiện vay vốn để kiểm soát dòng tiền tín dụng, điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo theo các ngành nghề và lĩnh vực cụ thể. Thứ ba, tín dụng đóng góp vai trò to lớn trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong bối cảnh mở rộng và phát triển của hội nhập kinh tế quốc tế.
Tín dụng cung cấp nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng có thể tham gia xuất nhập khẩu hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tạo dựng vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế. Năng lực tài chính vững mạnh của quốc gia cũng giúp hoạt động tài chính của Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường quốc tế và gia tăng kim ngạch xuất khẩu, kích thích xuất khẩu các sản phẩm mang thương hiệu quốc tế, đồng thời tăng cường hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới, tạo dựng mối quan hệ hợp tác “win- win” đôi bên cùng có lợi. Thứ tư, tín dụng là công cụ thiết yếu giúp ngân hàng phân tán rủi ro nợ xấu trong hoạt động cho vay. Khi cho vay, ngân hàng luôn tiềm ẩn nguy cơ khách hàng không thanh toán khoản vay, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
Do đó, hiệu quả của hoạt động thu hồi vốn và lãi cho ngân hàng có thể được nâng cao thông qua việc đánh giá và quản lý rủi ro một cách hợp lý. Rủi ro này có thể được giảm thiểu đáng kể bằng cách chia nhỏ các khoản vay lớn và phân bổ cho nhiều ngân hàng khác nhau. Nhờ vậy, ngay cả khi một số người đi vay không trả được nợ, ngân hàng chỉ chịu tổn thất một phần khoản vay thay vì toàn bộ số tiền cho vay. RỦI RO TÍN DỤNG 2.
Khái niệm về rủi ro tín dụng “Rủi ro tín dụng được xem là rủi ro chính và quan trọng nhất trong số các loại rủi ro tồn tại trong ngành tài chính, xuất phát từ việc người đi vay trì hoãn hoặc không trả được nợ, dẫn đến tổn thất tài chính cho các ngân hàng” (Thalassinos và Thalassinos, 2018). Theo Nguyễn Văn Tiến (2012) cho rằng “Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường 11 hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc và lãi khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc lãi không đúng kỳ hạn. Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ RRTD nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp RRTD”.
Như vậy, RRTD được hiểu là là loại rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động cho vay của ngân hàng, do bên vay không thực hiện thanh toán tiền vay đúng hạn theo hợp đồng. Khi đối mặt với RRTD, khả năng thu hồi cả gốc và lãi của khoản vay đối với ngân hàng sẽ suy giảm. Việc thu hồi nợ không hiệu quả dẫn đến tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng trong hoạt động thu chi. Điều này dẫn đến hệ thống ngân hàng phải gánh chịu áp lực tài chính đáng kể, đồng thời uy tín và chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường.
Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: Rủi ro giao dịch là rủi ro xuất phát từ những hạn chế trong quá trình thực hiện giao dịch giữa khách hàng với ngân hàng. Rủi ro này phát sinh từ nhiều khía cạnh bao gồm: quy trình thực hiện giao dịch, xác định khả năng thanh toán khoản vay của khách hàng chưa thực sự chính xác, quy trình phê duyệt khoản vay và giám sát khoản vay sau khi giải ngân chưa hiệu quả. Rủi ro giao dịch có ba thành phần chính: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. - Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định và phân tích tín dụng xuất phát từ việc ngân hàng chọn lựa sai phương án vay vốn hiệu quả nhất cho các khoản vay.
Nói cách khác, rủi ro này xuất hiện khi ngân hàng lựa chọn sai đối tượng vay vốn, dẫn đến việc phê duyệt khoản vay cho những khách hàng có tiềm ẩn rủi ro cao. - Rủi ro bảo đảm xuất phát từ những yếu tố liên quan đến tiêu chuẩn bảo đảm trong các điều khoản hợp đồng vay vốn, loại tài sản đảm bảo, đối tượng đảm bảo, 12 phương thức đảm bảo và hạn mức vay từ tài sản đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan tới quản lý khoản vay, sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay đang có vấn đề. Rủi ro danh mục đầu tư phát sinh do những hạn chế trong công tác quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
- Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng biệt bên trong của từng chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Loại rủi ro này bắt nguồn từ đặc điểm hoạt động hoặc cách thức sử dụng vốn của khách hàng vay.