CHƯƠNG 1 TÒNG QUAN CÁC NGHIÊN cứu VÈ TÁC ĐÔNG CỦA CẤU TRÚC SỎ HŨU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CÁC NGHIÊN CỨU VẾ CẤU TRÚC SỞ HỮU TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG Cấu trúc sở hữu trong mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của ngân hàng từ lâu đã nhận được sự quan tâm từ phía các cơ quan quản lý cũng như các nhà nghiên cứu. Xét về mặt lịch sử, vấn đề này lần đầu tiên được đề cập trong cuốn sách “Cô/7g ty hiện đại và Tài sản cá nhân" của Adolph Berle và Gardiner Means [43] vào năm 1932. Theo lập luận của Berle và Means, sự phân tán trong sở hữu cổ phần tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoạt động của công ty.
Sự mở rộng quyền sở hữu này có thể cho phép các nhà quản lý theo đuổi lợi ích riêng của họ và không phù hợp với lợi ích các cổ đông, do vậy, việc vận hành công ty bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt quyền sở hữu và câu trúc kiểm soát. Từ đó, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này đã được xây dựng trên cơ sở các quan sát đa dạng về những loại hình công ty, khu vực địa lý cũng như loại hình sở hữu khác nhau. Trong nghiên cứu về các ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu, Demsetz (1983)[57] cho ràng cấu trúc sở hữu cần được xem xét là một biến nội sinh và nó phản ánh các tác động của thị trường tài chính đối với cổ phiếu của doanh nghiệp. Khi chủ sở hữu của các công ty cổ phần quyết định bán các cổ phiếu đang nắm giữ hay các cổ đông mua thêm cổ phiếu phát hành thêm của các công ty đại chúng, thực tế là họ đang làm thay đổi cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp (quyền sở hữu của doanh nghiệp được phân tán hay lan tỏa giữa các chủ sở hữu hơn nữa).
Các quyết định như mua hay bán cổ phiếu của doanh nghiệp phản ánh mong muốn của các chủ sở hữu hiên tại và chủ sở hữu tiềm năng đồi với doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp bị thâu tóm, chủ sở hữu cũ không có ưu thế hơn chủ sở hữu mới và những chủ sở hữu mới sau khi thâu tóm có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp và chiêm ưu thê trong câu trúc sở hữu của doanh nghiệp. Như vậy, cấu trúc sở hữu bất kể là theo hình thức tập trung hay phân tán đều phản ánh mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông trong doanh nghiệp. 8 Trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi nhà quản trị.
chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu. Jensen và Meckling (1976) [75] đã đặt giả thiết tỷ lệ sở hữu của ban quản lý doanh nghiệp là yếu tố ngoại sinh và sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để thực hiên nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp những chứng cứ về việc tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên ban quản lý càng lớn thì các quyết định của nhà quản lý càng có xu hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như bám sát theo mục tiêu cuối cùng của quản trị doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu. Tuy nhiên, nghiên cứu thực chứng của Cho (1998) [48] về cấu trúc sở hữu, đầu tư và giá trị doanh nghiệp cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược giữa mức độ sở hữu của Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tác giả đã tập trung vào giả thuyết rằng việc sở hữu nội bộ ảnh hưởng đến đầu tư, từ đó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp (đo lường bởi Tobin’s Q). Sử dụng các hệ phương trình hồi quy OLS chéo, các tác giả đã tìm ra ảnh hưởng tích cực của đầu tư tới giá trị doanh nghiệp, đồng thời giá trị doanh nghiệp lại ảnh hưởng lên cấu trúc sở hữu nội bộ. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiêu quả hoạt động của doanh nghiệp ở Mỹ thu được những kết quả khác nhau. Đe xuất về tính chất nội sinh của cấu trúc sở hữu trong đo lường tác động tới hiệu quả hoạt động, Demsetz và Lehn (1985) [58] đã kiểm định thực nghiệm với 511 doanh nghiệp lớn của Mỹ, với sự quan sát các hình thức trong cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp như: sở hữu tổ chức, sở hĩru cá nhân, sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất.
Hai tác giả đã sử dụng các mô hình hồi quy tuyến tính mà trong đó cấu trúc sở hữu được xem là biến nội sinh. Ngày nay, cấu trúc sở hữu được coi là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của công ty đã được công nhận rộng rãi trong các tài liệu tài chính - kinh tế (Comett và cộng sự, 2009 [54]). Với vai trò là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, ngân hàng là một đối tượng nghiên cứu phổ biến để kiểm tra mối quan hệ này. Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới, bao gồm cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển và Việt Nam với những kết quả khác nhau.
Sau đây, luận án sẽ hệ thống lại những nghiên cứu nổi bật về chủ đề này lần lượt tại các quốc gia phát triển, quốc gia đang phát triển với nền kinh tế chuyển đổi và Việt Nam. Nghiên círu tại các quốc gia phát triển Sự gia tăng toàn cầu hóa trong ngành tài chính từ những năm 1990 trở lại đây đã dẫn tới những thay đổi đáng kể trong các cấu trúc quyền sở hữu ngân hàng trên toàn thế giới. Ở cả các nuớc phát triển và đang phát triển, tỷ trọng các ngân hàng do nuớc ngoài sở hữu tăng lên. trong khi đó đồng thời quyền sở hữu nhà nước tại các ngân hàng có xư hướng giảm.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã làm trầm trọng thêm cuộc tranh luận về cơ cấu sở hữu của ngành ngân hàng và những hậu quả đối với các trung gian tài chính. Một số đã chỉ ra sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài ở các nước đang phát triển như là một cơ chế chủ yếu để dẫn truyền cuộc khủng hoảng 2008-2009 từ các nước tiên tiến sang các nước đang phát triển (ví dụ như báo cáo của IMF năm 2009). Đồng thời, các nước đang phát triển như Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ, nơi các ngân hàng do chính phủ quản lý có tầm quan trọng lớn thì hệ thống đã hồi phục nhanh chóng từ cuộc khủng hoảng, tạo ra sự quan tâm đến vai trò các ngân hàng này có thể đảm trách trong giai đoạn khủng hoảng tài chính. Lý do và ảnh hưởng của chính phủ và sở hữu ngân hàng nước ngoài là một chủ đề gây tranh cãi.
Có hai quan điểm ôn hòa của các ngân hàng nhà nước. Quan diêm “xã hội” nhấn mạnh rằng bằng cách giúp vượt qua những thất bại của thị trường và tận dụng các nguồn lực, các ngân hàng nhà nước có thể thúc đấy các khoản đầu tư nâng cao phúc lợi xã hội (Stiglitz, 1993 [109]). Quan điểm “phát triển” có liên quan nhấn mạnh rằng các ngân hàng nhà nước có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phân bô các nguôn lực cho các ngành công nghiệp chiên lược mà khu vực tư nhân không thê hoặc không muốn tài trợ, do đó giúp đẩy nhanh sự phát triển kinh tế (Gerschenkron, 1962 [65]). Ngược lại, có hai quan điểm nhấn mạnh rằng sở hữu của ngân hàng chính phủ có thể dẫn đến phân bổ nguồn lực không hiệu quả.
Theo quan điếm của người đại diện, ngay cả khi chính phủ có những mục đích tốt nhất, xung đột lợi ích giữa chính phủ và các quan chức được chỉ định để quản lý các ngân hàng do chính phủ quản lý có thể làm tăng thiếu hiệu quả hoạt động và phân bổ sai (Hart và cộng sự, 1997)[68]. Quan điểm “chính trị” cho thấy các ngân hàng nhà nước là CO’ chế để các chính trị gia theo đuổi các mục tiêu của họ (ví dụ như tái tranh cử. lợi nhuận cá nhân .) dẫn đến phân bổ sai tài nguyên (ví dụ như tài trợ cho người ủng hộ hoặc của những người có lợi ích nhóm) và hiệu quả kinh tế không cao (Shleifer và Vishny. 10 Liên quan đến quan điểm này, các mô hình kinh tế chính trị cho thấy các chính trị gia có xu hướng ủng hộ sở hữu ngân hàng của chính phủ khi trách nhiệm giải trình và sự độc lập của tư pháp là thấp, vì các chính trị gia có thể khai thác những lợi ích mà không phải gánh chịu hậu quả cá nhân (Perotti và Vorage, 2010)[102].
Các lập luận chính ủng hộ chủ sở hữu ngân hàng nước ngoài là các ngân hàng nước ngoài có thể mang lại vốn, kỳ thuật và đổi mới sản phẩm (đặc biệt đối với các nước đang phát triển), tăng cường cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của ngành ngân hàng (Levine, 1997 [82]). Mặt khác, những ý kiến lo ngại phần lớn tập trung vào việc các ngân hàng nước ngoài có thể gây bất ổn cho ngành ngân hàng địa phương bang cách truyền những cú sốc từ bên ngoài và đe dọa sự sống còn của các ngân hàng trong nước bằng cách tăng cạnh tranh (Stiglitz, 1993)[109]. Cuối cùng, các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm giảm khả năng tiếp cận tài chính cho phần lớn các doanh nghiệp trong nước và người tiêu dùng nếu họ chỉ tập trung vào phân khúc ít rủi ro và minh bạch nhất của thị trường (Detragiache và cộng sự, 2008 [55]). Theo Gursoy và Aydogan (2002) [66], xét về hình thức của chủ sở hữu, các ngân hàng được chia ra thành ngân hàng quốc doanh, ngân hàng tư nhân, và ngân hàng nước ngoài.
Trong đó, sở hữu nhà nước trong ngân hàng phổ biến hơn ở các quốc gia đang phát triển và những quốc gia mà Chính phủ can thiệp nhiều hơn vào thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, theo nghiên cứu này thì ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng không có sự khác biệt nhiều ở các quốc gia phát triển. Đồng tình với quan điểm này.