Chương 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 2009, Việt Nam bước vào giai đoạn phục hồi. Giai đoạn 2015 -2019 tình hình kinh tế đạt mức tăng trưởng khá, bình quân 7,09̀%, đến những năm 2020 – 2021, do ảnh hưởng của đại dịch Covid nên kinh tế có chiều hướng đi xuống, mức tăng trưởng 2.
Sau đó, năm 2022 có sự phục hồi mạnh mẽ trở lại đạt 8. Các năm tiếp theo thực sự là năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025, là thời điểm Việt Nam kỳ vọng đạt GDP đạt 10 triệu tỷ đồng. Kinh tế Việt Nam đã và đang sâu rộng vào kinh tế thế giới (Nguyễn Thị Hương, 2022) [8]. Cùng với quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, là tổ chức trung gian tài chính, ngân hàng thương mại ̣(NHTM) đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế.
Các sản phẩm của NHTM ngày càng đa dạng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh những thành quả đạt được thì ngành ngân hàng cũng gặp nhiều thách thức khi đang trong cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) với xu hướng phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) ứng dụng mạnh mẽ trong các ngành nghề, trong đó có ngành ngân hàng. Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghiệp máy tính, bản thân các NHTM cũng phải tự đột phá để cạnh tranh với các ngân hàng khác. Ngoài ra, các NHTM trong trong nước cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài thì bản thân các ngân hàng này cũng bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi các trung gian tài chính phi ngân hàng với hàng loại sản phẩm tương tự như sản phẩm ngân hàng với công nghệ AI.
Để đối mặt với sức ép cạnh tranh, mỗi ngân hàng sẽ tự thích nghi và tạo ra lợi nhuận và tăng trưởng bền vững. Lợi nhuận được xem là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động được đo lường và đánh giá thông qua 2 nhóm chỉ tiêu đó là hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính (xã hội, môi trường. Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ bị thay thế bởi các ngân hàng mạnh hơn.
Điều này cho thấy các ngân hàng càng có hiệu quả tài chính cao thì lợi thế cạnh tranh càng tốt. Có thể nói hiệu quả tài chính của ngân hàng là một vấn đề quan tâm của cả nhà đầu tư 1 bên trong, bên ngoài ngân hàng cũng như các bên liên quan, là căn cứ để các bên quan tâm đưa ra quyết định quản lý phù hợp. Như vậy, hiệu quả tài chính trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại, phát triển bền vững của mỗi NHTM trong bối cảnh môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam (VN), hiện nay có 49 ngân hàng trong nước và nước ngoài.
Trong đó có 31 NHTM cổ phần trong nước. Theo chủ trương NHNN thì các ngân hàng này niêm yết trên sàn chứng khoán trong hết năm nay. Tính đến năm 2022, có 19 NHTM cổ phần trong nước niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Một số ngân hàng hoạt động không hiệu quả dẫn tới ngừng hoạt động hoặc phải mua bán sáp nhập (M&A) xảy ra một vài năm trước ở Việt Nam (Oceanbank, PG Bank hay Mekong bank, …).
Các NHTM đang đối mặt với những khó khăn trong việc huy động và cho vay do phần lớn khách hàng doanh nghiệp thiếu đầu ra. Nợ xấu trong các ngân hàng tăng cao, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với việc bán tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, dù đã giảm giá rất thấp so giá trị khoản vay. Do thị trường bất động sản “đóng băng” khiến cho hoạt động xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thậm chí có chiều hướng xấu đi. Bên cạnh đó, nhu cầu tín dụng và lãi suất cho vay giảm sút đã khiến biên lãi ròng (NIM) bị thu hẹp (Minh Phương, 2023) [15].
Từ thực trạng trên, vấn đề nghiên cứu về hiệu quả tài chính của NHTM niêm yết đã và đang trở nên cấp thiết. Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiến hành các nghiên cứu về hiệu quả nói chung, hiệu quả tài chính / hiệu quả hoạt động trong các NHTM nói riêng. Các nghiên cứu chỉ dưới dạng bài báo hay bài đăng tạp chí chuyên môn chưa phải là luận án tiến sĩ và chưa chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính một cách có hệ thống và phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian của các nghiên cứu này khác nhau, do vậy nhiều giải pháp, hàm ý quản trị và hàm ý chính sách đưa ra đến nay không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Bên cạnh đó, các nghiên cứu sử dụng có nhiều tiêu chí để đánh giá hiệu quả tài chính và mỗi tiêu chí lại có những ưu nhược điểm khác nhau.
Xem xét các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính khá khác nhau, các kết quả nghiên cứu có sự khác biệt khá nhiều về không gian và thời gian, việc xác định các tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính, 2 phân tích hiệu quả tài chính, phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NHTM niêm yết khá hạn chế. Việc nghiên cứu đầy đủ về phân tích hiệu quả tài chính, phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả tài chính của các NHTM niêm yết tại Việt Nam thời gian qua hầu như chưa có những nghiên cứu đầy đủ và chuyên sâu. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: "Phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NHTM niêm yết ở Việt Nam" làm luận án tiến sĩ của mình. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích toàn diện hiệu quả tài chính, tìm hiểu mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính tại các NHTM niêm yết ở Việt Nam.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính tại các NHTM niêm yết ở Việt Nam, cung cấp cơ sở thực nghiệm cho các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của các NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án sử dụng các phương pháp thống kê phân tích, so sánh, thống kê mô tả, kỹ thuật phân tích định lượng số liệu thứ cấp thu thập được từ thị trường chứng khoán Việt Nam của 19 NHTM để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu. Luận án cho biết nhân tố nào có mối quan hệ đồng biến, nghịch biến với hiệu quả tài chính tại các NHTM niêm yết ở Việt Nam. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng không giống nhau.
Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa đối với các nhà quản trị tại các NHTM, những nhà nghiên cứu chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu về hiệu quả tài chính của các NHTM Ở Việt Nam cũng có khả nhiều nghiên cứu chính thức về hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lợi, năng lực tài chính của các NHTM như luận án tiến sĩ của Phạm Thị Hồng Nhung (2023) tác động của cấu trúc vốn đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam [13] hay trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Vân (2022) nghiên cứu năng lực tài chính của các NHTM sau M&A ở Việt Nam theo các tiêu chí Camels [26]. Nguyễn Việt Hùng (2008) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 32 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 [6].
Hạn chế của các nghiên cứu này là chỉ mới xem xét tác động của một hay một vài 3 khía cạnh của hiệu quả tài chính và được thực hiện trong các giai đoạn phát triển trước đây của ngân hàng, khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng chưa cao, nền kinh tế phát triển ở mức thấp. Hiệu quả tài chính của các ngân hàng được các nhà nghiên cứu trước thực hiện dựa trên nhận diện nó như một phần của hiệu quả hoạt động hay hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Muhammad Bilal & Hanudin Amin (2015) nghiên cứu về hiệu quả tài chính của ngân hàng Islamic trong và sau cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn Mỹ ở Pakistan [80]. Ekinci và Poyraz (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hiệu quả tài chính của tiền gửi ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Nghiên cứu này sử dụng chỉ số “Sức sinh lợi của tài sản” (ROA) và “Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu" (ROE) được sử dụng làm đại diện cho các chỉ số hiệu quả tài chính trong khi nợ xấu (NPL) được sử dụng làm chỉ số rủi ro tín dụng. Các tác giả đã sử dụng 13 chỉ số tài chính để đo lường hiệu quả tài chính theo 5 nhóm gồm: (i) khả năng sinh lợi (ROA, ROE), (ii) rủi ro và khả năng thanh toán (LQR), (iii) tính thanh khoản (CR, Current Asset Ratio, NLTA), (iv) tỷ lệ an toàn vốn (CAR, ELR) và (v) hiệu quả hoạt động (Net Interest Margin, Net Interest Revenue/Average Assets, Other Operating Income/Average Assets, Non-Interest Expense/Average Assets, Cost/Income ratio [61]. Nghiên cứu này tuy đánh giá và đo lường hiệu quả tài chính của ngân hàng khá toàn diện nhưng chỉ nhấn mạnh vào hiệu quả tiền gửi. Gupta và Mahakud (2020) sử dụng phương pháp GMM phân tích dữ liệu của 64 NHTM Ấn Độ để nghiên cứu vai trò của các yếu tố quyết định kinh tế vĩ mô, đặc thù ngành và ngân hàng khác nhau đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM Ấn Độ giai đoạn từ 1998-1999 đến 2015- 2016 [64].
Trong đó, tác giả đề cập đến hiệu quả tài chính như một phần của hiệu quả hoạt động và nó được đo lường thông qua ROA và ROE. Alfadli và Rjoub. (2020) xem xét số liệu thống kê ổn định của 62 NHTM từ quý 1 đến quý 4 năm 2011. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật ước lượng sai số hiệu chỉnh1 1 Panel-Corrected Standard Errors 4 (PCSE) cho tập dữ liệu bảng cân bằng, đã kiểm tra tác động của các biến số kinh tế vĩ mô (INF, OILP), ngành ngân hàng (Conc) và các biến của từng ngân hàng cụ thể (SIZE, Eff, CAR, LIQ, CR, Dive) đến hiệu quả tài chính (ROA, ROE, NIM, PBT) của các NHTM hoạt động tại các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) [41].
Đây là một nghiên cứu đề cập khá toàn diện, đầy đủ đến hiệu quả tài chính của ngân hàng.