CHƯƠNG 1 Chương này thảo luận về tầm quan trọng của ngân hàng và những thách thức mà ngành hiện đang phải đối mặt, đặc biệt là tác động của rủi ro tín dụng đối với 25 ngân hàng TMCP Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đã đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu để cụ thể hóa mục tiêu nghiên cứu để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu. Điều này giúp xác định vấn đề trọng tâm của đề tài, cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà khóa luận sẽ theo dõi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Theo đó, phạm vi và đối tượng nghiên cứu được xác định và khóa luận trình bày các phương pháp phân tích tổng hợp và định lượng dựa trên các công trình nghiên cứu trước đó.
Ở cuối chương này, khóa luận tóm tắt đề tài và nền tảng của nó. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC 2. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về tín dụng Có nhiều loại tín dụng, như là tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng.
Trong đó, theo Hồ Diệu (2009) thì tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Quan hệ này được thể hiện qua các nội dung cơ bản: -Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật như hàng hóa, máy móc, thiết bị,. -Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao trong một thời gian nhất định.
Sau khi hết hạn sử dụng người đi vay phải có nghĩa vụ hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng với các đơn vị, các tổ chức kinh tế và cá nhân được thực hiện dưới hình thức các ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ đứng ra huy động vốn rồi dùng nguồn vốn đó để cho vay đối với các đối tượng nêu trên. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) đã đưa ra khái niệm tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bẳng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp cụ khác. Trong nền kinh tế thị trường đại bộ phận quỹ vay tập trung qua ngân hàng, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hàng hoá, trang trải các chi phí sản xuất 8 và thanh toán các khoản nợ, mà còn tham gia cấp vốn xây dựng cơ bản và đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tín dụng tiêu dùng cá nhân.
Như vậy tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm về thời hạn cho vay linh hoạt, đáp ứng được mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng; khối lượng tín dụng lớn và phạm vi tín dụng hiện nay đã được mở rộng với mọi ngành, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế tuy nhiên lại có độ rủi ro cao do ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có, hoặc có sự chuyển đổi thời hạn và phạm vi tín dụng rộng. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Thực chất tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và người đi vay, mối quan hệ này được biểu hiện với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng mà ngân hàng chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về ngân hàng với lượng giá trị lớn hơn lúc ban đầu. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) thì tín dụng ngân hàng có đặc điểm của tín dụng nói chung như tín dụng là có lòng tin, tính thời gian, tính hoàn trả, tiềm ẩn rủi ro cao và cam kết hoàn trả vô điều kiện. Thứ nhất, tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào niềm tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho những người được tin tưởng là sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Người đi vay cũng phải có niềm tin vào khả năng kiếm được tiền để trả nợ gốc và lãi trong tương lai. Đây là thành phần quan trọng nhất. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có tính hoàn trả hoặc có thời hạn.
Mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn để ngân hàng có thể hoàn trả vốn huy động của họ vì họ là trung gian tài chính "đi vay để cho vay". Thời hạn cho vay hợp lý phụ thuộc vào tính chất thời hạn nguốn vốn của ngân hàng và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Ngân hàng có thể cấp nhiều tín dụng dài hạn nếu có nguồn vốn dài hạn ổn định; ngược lại, nếu nguồn vốn có kỳ hạn ngắn và không ổn định, thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. 9 Thứ ba, tín dụng phải bao gồm cả lãi và gốc.
Tín dụng không được phép nếu không có sự hoàn trả. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hoặc giá trị gốc. Ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây là giá của quyền sử dụng vốn vay của họ. Khoản lãi phải bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, điều này phù hợp với chức năng của ngân hàng.
Thứ tư, tín dụng là một hoạt động ngân hàng tiềm ẩn rủi ro cao. Đánh giá tính a toàn của hồ sơ vay vốn là một công việc khó khăn. vì luôn có sự bất cân xứng trong thông tin, dẫn đến các lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra, việc thu hồi tín dụng phụ thuộc vào các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của khách hàng, chẳng hạn như tỷ giá, lạm phát, thiên tai, giá cả và lãi suất.
Ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng khi môi trường kinh doanh thay đổi khiến khách hàng khó trả nợ. Thứ năm, các khoản tín dụng phải dựa trên cam kết hoàn trả vô điều kiện. Các khoản vay và xin vay được thực hiện trên cơ sở pháp lý nghiêm ngặt, bao gồm các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp và hợp đồng bảo lãnh. Trong những hợp đồng này, cả bên đi vay và bên bảo lãnh đều được yêu cầu cam kết hoàn trả khoản vay cho ngân hàng Tóm lại, một mối quan hệ tín dụng được coi là hoàn hảo nếu được thực hiện với đầy đủ các đặc điểm nêu trên, nghĩa là người vay phải hoàn trả được đầy đủ cả gốc và lãi vay cho ngân hàng đúng thời hạn đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng.
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng Có nhiều định nghĩa về RRTD trong hoạt động tín dụng. Saunders định nghĩa RRTD trong hoạt động tín dụng là: ‘Khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn (A. 10 Theo Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) cho rằng Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thu được đủ gốc lẫn lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án. RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Như vậy rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của TCTD. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng ❖ Tỷ lệ nợ xấu 𝑫ư 𝒏ợ 𝒙ấ𝒖 Tỷ lệ nợ xấu = × 𝟏𝟎𝟎% 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒅ư 𝒏ợ 𝒕í𝒏 𝒅ụ𝒏𝒈 Dựa vào những nghiên cứu và lý thuyết bạn đã đề cập, tỷ lệ nợ xấu thường được đánh giá thông qua tỷ số giữa dư nợ xấu chia cho tổng dư nợ tín dụng (Fadzlan Sufian & Royfaizal R.
Chong, 2008; Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012; Rasidah M. Đây là một cách để đo lường khả năng của một ngân hàng trong việc quản lý và thu hồi các khoản vay. Nợ xấu thường được định nghĩa dựa trên một số tiêu chí, và một số tiêu chí phổ biến bao gồm: 1. Quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 91 ngày: Đây là một dấu hiệu quan trọng cho thấy khả năng khách hàng hoặc doanh nghiệp không thể đáp ứng nghĩa vụ tài chính đúng hạn.
Các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên: Việc không thanh toán lãi đúng hạn có thể là một dấu hiệu của khả năng khó khăn tài chính. Các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ: Điều này có thể bao gồm các tình huống đặc biệt hoặc thông tin chỉ ra rủi ro trong việc thanh toán nợ trong tương lai. Các ngân hàng và tổ chức tín dụng sử dụng những tiêu chí này để đánh giá và theo dõi hiệu suất tín dụng của họ, và để đề xuất các biện pháp phòng ngừa hoặc xử lý khi cần thiết. Quản lý rủi ro tín dụng là một phần quan trọng của hoạt động ngân hàng để đảm bảo sự ổn định và bền vững trong ngành công nghiệp tài chính.
Theo NHNN Việt Nam (2021), nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 và có khả năng mất vốn, bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Các tổ chức tín dụng phải phân loại nợ theo phương pháp định lượng.