CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới 1. Nghiên cứu tác động của dịch vụ NHĐT đến kết quả tài chính của ngân hàng Không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của dịch vụ NHĐT đối với KQHĐ của các NH, vì trên lý thuyết các dịch vụ này đem lại lợi nhuận cao hơn và chi phí thấp hơn. Mặc dù vậy, các nghiên cứu thực nghiệm ở một số quốc gia cho thấy những kết quả khác nhau, chủ yếu là nghiên cứu tác động của dịch vụ NHĐT đến kết quả lợi nhuận của các NH.
Các nghiên cứu này được chia thành hai nhóm theo mức độ phát triển của các quốc gia: các nước đang phát triển phát triển và các nước phát triển. Nghiên cứu ở các nước phát triển - Các nghiên cứu cho thấy kết quả tác động tích cực của dịch vụ NHĐT đến kết quả hoạt động NH Các nghiên cứu của Hasan et al. (2002), Kagan et al., (2007), Onay, Ozsoz và Helvacioglu (2008), Delgado et al. (2004, 2007), Onay và Ozsoz (2013) cho thấy ứng dụng NHĐT có ảnh hưởng tốt đến lợi nhuận của NH với một độ trễ thời gian nhất định, đối với các nước Châu Âu và Hoa Kỳ.
Một số nghiên cứu khác của Egland et al. (1998), Sullivan (2000), Sathye (2005) cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể của dịch vụ NHĐT, ở đây cụ thể là dịch vụ NH qua mạng (internet banking) đến hiệu quả hoạt động của các NH Hoa Kỳ và Úc. Cụ thể, DeYoung (2005) đã đánh giá hiệu quả tài chính của các dịch vụ NHĐT ở Mỹ. Nghiên cứu cho thấy lợi nhuận tương đối thấp tại các NH có dịch vụ NHĐT so với các NH chỉ cung ứng dịch vụ NH theo cách truyền thống (sau đây gọi tắt “NH truyền thống”), một phần do chi phí lao động cao, doanh thu dựa trên phí dịch vụ thấp và hạn chế chi trả vốn tiền gửi.
Tuy nhiên, kết quả cũng chỉ ra rằng các NH có dịch vụ NHĐT tử có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các NH truyền thống. 10 Các NH ứng dụng công nghệ và phương tiện điện tử vào hoạt động có khả năng trở nên cạnh tranh tài chính hơn theo thời gian khi phát triển ở quy mô lớn hơn. Delgado và cộng sự (2004, 2006) đã chỉ ra kết quả nghiên cứ tương tự đối với các NH ở Châu Âu. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế dựa trên công nghệ được nêu lên trong nghiên cứu của Delgado và cộng sự (2004, 2007) rõ ràng hơn đáng kể so với ước tính của các nghiên cứu của DeYoung.
DeYoung et al (2007) trong nghiên cứu “How the Internet affects output and performance at community banks” nghiên cứu thực nghiệm trên 424 NH địa phương Hoa Kỳ, giai đoạn bắt đầu đưa công nghệ web vào dịch vụ NH giai đoạn 1999-2001 để đánh giá ảnh hưởng của Internet tới kết quả đầu ra và lợi nhuận của các NH. Biến số phản ánh cung ứng dịch vụ NHĐT được tác giả sử dụng là biến giả “dummy variable” (Internet baning =1). Kết quả cho thấy việc thêm kênh phân phối Internet vào mạng lưới chi nhánh NH hiện có dẫn đến sự gia tăng trông thấy lợi nhuận NH. Các khoản tăng thu nhập này chủ yếu là do tăng thu nhập ngoài lãi từ phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi.
Tác giả giải thích chính sự tiện lợi của NH trực tuyến khiến một lượng KH gửi tiền NH tiếp tục mua thêm các dịch vụ khác hoặc sẵn sàng trả thêm tiền cho các dịch vụ mà họ đã mua trước đó tại các chi nhánh NH., (2007) với nghiên cứu “Is the Internet Delivery Channel changing Banks’ Performance?” đã xác định và ước tính tác động của việc sử dụng trang web giao dịch đến hiệu suất tài chính của NH với số mẫu là 72 NHTM hoạt động tại Tây Ban Nha trong giai đoạn 1994-2002. Các chỉ tiêu tài chính đo lường hiệu suất hoạt động NH đó là tỷ lệ chi phí/tổng tài sản; chi phí công nghệ và tiếp thị/tổng tài sản. và chỉ tiêu lợi nhuận được đo bằng ROA, ROE, tỷ suất lãi trung gian (NIM), hoa hồng môi giới chứng khoán. Kết quả cho thấy hiệu quả của việc chấp nhận web giao dịch của NH cần có thời gian.
Việc chấp nhận Internet như một kênh phân phối sản phẩm NH sẽ giảm dần chi phí vận hành (đặc biệt là nhân viên, tiếp thị và CNTT), nhưng chỉ có ý nghĩa thống kê sau một năm rưỡi sau khi áp dụng. Việc giảm chi phí dẫn đến cải thiện về khả năng sinh lời của các NH, từ đó ảnh hưởng tích cực đến ROA và thu nhập từ hoa hồng và phí sau 1 năm rưỡi, 11 tác động tích cực đến ROE sau 3 năm, nhưng không có tác động đáng kể với NIM của NH. Kegan và cộng sự (2005) trong nghiên cứu về dịch vụ NHĐT và hiệu suất của các NH đã xem xét tác động của các ứng dụng NH trực tuyến (online-banking) đến hiệu suất của các NH ở Mỹ. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để mô tả mối quan hệ giữa online banking và hiệu suất NH.
Trong đó, 10 NH cộng đồng đã được lựa chọn làm mẫu nghiên cứu, đó là các NH có tổng tài sản ít hơn một tỷ đô la của Mỹ hoạt động ở Iowa, Minnesota, Montana, North Dakota và South Dakota. Kết quả chỉ ra rằng các NH cung cấp dịch vụ online banking có xu hướng hoạt động tốt hơn so với những NH còn lại. Ngoài ra, online banking giúp các NH cải thiện khả năng thu nhập của họ thể hiện thông qua chỉ số lợi nhuận/vốn chủ sở hữu và cải thiện chất lượng tài sản. Sử dụng dữ liệu và thông tin được thu thập từ các NH ở Ý, Hasan và cộng sự (2002) phát hiện ra rằng các tổ chức có dịch vụ NHĐT đang hoạt động tốt hơn đáng kể so với nhóm truyền thống.
Ngoài ra, các biến số thể hiện rủi ro liên quan của NH điện tử tiếp tục thấp hơn so với NH truyền thống. Các biến số Tài sản/Nợ cho thấy rằng rằng giá trị trung bình ở các NH điện tử cũng như có hoạt động đầu tư và giao dịch cao hơn đáng kể và ít phụ thuộc vào tiền gửi (cả tiền gửi không kỳ hạn và tiết kiệm) so với nhóm NH truyền thống. Yếu tố duy nhất mà nhóm NH điện tử cho thấy hiệu suất thấp hơn là yếu tố chi phí không lãi suất. Có thể khẳng định, dịch vụ NHĐT với yêu cầu về đầu tư cho công nghệ ban đầu ở mức cao nên gia tăng các chi phí hoạt động ngoài lãi của NH.
Onay, Ozsoz và Helvacioglu (2008) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của online banking đối với khả năng sinh lời của NH, trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ. Phân tích của họ bao gồm 13 NH đã áp dụng dịch vụ NH trực tuyến ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1996 đến 2005. Kết quả cho thấy không có mối quan hệ giữa NH trực tuyến với thu nhập lãi cận biên, thu nhập từ phí và hoa hồng. Tuy nhiên dịch vụ NHĐT bắt đầu đóng góp vào ROE của NH với thời gian trễ hai năm, trong khi tác động tiêu cực được quan sát thấy với độ trễ một năm, tương đồng với kết quả và Hernando và 12 Nieto (2007).
Đó là khuyến cáo rằng quyết định đầu tư trên dịch vụ NHĐT nên được tính toán hợp lý để lý giải cho chi phí và doanh thu tác động đến hiệu suất NH. Đến năm 2013, Onay và Ozsoz đã sử dụng dữ liệu từ 1990 đến 2008 của 18 NH bán lẻ hoạt động tại Thổ Nhĩ Kỳ và chỉ ra rằng việc áp dụng dịch vụ NHĐT có liên quan tích cực với mức lợi nhuận, tiền gửi và cho vay trên mỗi chi nhánh. Nghiên cứu của họ cũng nêu ra rằng việc áp dụng dịch vụ NHĐT có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của NH sau 2 năm áp dụng. Theo các tác giả, lý do cho tác động tiêu cực như vậy là dịch vụ NHĐT làm tăng cạnh tranh giữa các NH và dẫn đến thu nhập lãi thấp hơn.
Nghiên cứu ở các nước đang phát triển Kết quả nghiên cứu khác nhau ở các nước đang phát triển như Jordan, Pakistan, Bangladesh, Iran, Ả rập Saudi, Keyna cho thấy dịch vụ NHĐT, hay NH qua mạng đem lại ảnh hưởng nhưng chưa thực sự rõ rệt đối với KQHĐ, NHĐT cải thiện hiệu suất hoạt động NH ở một mức độ, khía cạnh nhất định: nghiên cứu của Rahman (2007); Malhotra và Singh (2009); Nader (2011); Josiah và Nancy (2012); Oyewole et al. Kết quả nghiên cứu Siam (2006), Khrawish, A. và Al-Sa'di, N.M (2011) và Akhisar et al (2015) cùng cho thấy chi phí cơ sở hạ tầng cao của việc phát triển dịch vụ NHĐT cùng với số lượng KH chưa tương xứng, tác động đến lợi nhuận của các NH trong các nước đang phát triển. Cụ thể, nghiên cứu của Khrawish, A.
và Al-Sa'di, N.M (2011) “The Impact of electronic banking on Bank Profitability: Evidence from Jordan”, nhằm kiểm tra tác động của dịch vụ NHĐT đến kết quả lợi nhuận của các NH Jordan trong giai đoạn 2000-2009. Biến số đại diện cho dịch vụ NHĐT trong nghiên cứu sử dụng là một ma trận của các biến giả “INTERNET” được xác định dựa trên thời điểm sử dụng dịch vụ NHĐT. INTERNET1 bằng 1 nếu NH có áp dụng dịch vụ NHĐT. INTERNET2 = 1 nếu NH áp dụng dịch vụ NHĐT trong 2 năm qua.
INTERNET3 = 1 nếu NH đã áp dụng dịch vụ NHĐT hơn 2 năm. Kết quả mô hình hồi quy cho kết quả không có hiệu quả đáng kể của dịch vụ NHĐT trên lợi nhuận của các NH mới ứng dụng điện tử vào cung cấp SP-DV, thể 13 hiện qua ROA và ROE của NH, mà cho thấy chỉ số chi phí cao liên quan đến việc áp dụng dịch vụ NHĐT này. Đối với các NH đã cung cấp dịch vụ NHĐT qua 2 năm, kết quả hồi quy có ý nghĩa hơn nhưng vẫn không cho thấy tác động đáng kể của dịch vụ NHĐT với lợi nhuận của các NH, giống với kết quả nghiên cứu của Mohammad và Saad (2011), Malhotra và Singh (2009). Nghiên cứu của Siam (2006) còn cho thấy dịch vụ NHĐT có ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả lợi nhuận của NH trong một thời gian ngắn.
Điều này được tác giả giải thích bởi các KH của NH ở Jordan vẫn phụ thuộc vào các kênh truyền thống để thực hiện các hoạt động NH của họ. Chi phí liên quan đến việc áp dụng NHĐT vẫn cao hơn doanh thu từ các dịch vụ điện tử cung cấp do đó, các NH Jordan cần tập trung hơn nữa thúc đẩy các dịch vụ NHĐT và củng cố lòng tin của KH sử dụng loại dịch vụ này.