phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, kết cấu của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Thẻ điểm cân bằng trong đánh giá kết quả hoạt động của trƣờng đại học. Chƣơng 2: Thực trạng đánh giá kết quả hoạt động tại trƣờng Đại học Tài chính – Kế toán. Chƣơng 3: Vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá kết quả hoạt động tại trƣờng Đại học Tài chính – Kế toán. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tài liệu cơ bản nhất là dựa trên cơ sở lý thuyết của Robert Kaplan về Thẻ điểm cân bằng (BSC).
Việc vận dụng thẻ điểm cân bằng để đánh giá kết quả hoạt động của các đơn vị đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu. Cụ thể nhƣ: Nayen, Mashhadi, Mohajeri (2007), “Universities Strategic Evaluation using Balanced Scorecard”, tạm dịch là “Việc vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá chiến lƣợc của các trƣờng Đại học”. Với nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng mô hình BSC để đánh giá chiến lƣợc kinh doanh trong môi trƣờng Giáo dục Đại học ở Iran. Mô hình đƣợc thực hiện thí điểm với 6 trƣờng nổi tiếng hàng đầu ở Iran.
Nghiên cứu đã cho thấy đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của từng trƣờng và đánh giá chất lƣợng giáo dục cũng nhƣ hiệu quả của việc vận dụng BSC trong quản trị chiến lƣợc. Từ đó, chất lƣợng giáo dục đƣợc nâng cao hơn dẫn đến sự gia tăng nhu cầu của ngƣời học. Tác giả Phạm Thị Thu Quỳnh: “ Vận dụng BSC trong đánh giá kết quả hoạt động tại trƣờng Cao đẳng Đức Trí Đà Nẵng” đƣợc tác giả bảo vệ thành 5 công tại Trƣờng Đại học kinh tế Đà Nẵng năm 2013. Với nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng hệ thống đo lƣờng kết quả hoạt động dựa trên Thẻ điểm cân bằng, đã khái quát đƣợc các mục tiêu trên bốn phƣơng diện: tài chính, ngƣời học, quy trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển.
Trên cơ sở các mục tiêu đó, tác giả cũng đã thiết lập từng thƣớc đo và hành động cụ thể. Từ đó, giúp ích cho nhà trƣờng trong việc quản lý chiến lƣợc, truyền đạt thông tin và đánh giá thành quả hoạt động, góp phần nâng cao uy tín và chất lƣợng của nhà trƣờng. Tác giả Phạm Thị Thu Nguyệt: “ Vận dụng BSC trong đánh giá kết quả hoạt động tại trƣờng Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Quảng Nam” đƣợc tác giả bảo vệ thành công tại Trƣờng Đại học kinh tế Đà Nẵng năm 2013. Với nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng đƣợc các mục tiêu và thƣớc đo từ chiến lƣợc của nhà trƣờng để giúp cho trƣờng vƣợt qua những khó khăn trong việc huy động nguồn lực, từ đó có thể cạnh tranh với các trƣờng đào tạo cùng ngành trong nƣớc.
Tác giả Huỳnh Thị Thanh Trang: “ Vận dụng BSC trong đánh giá kết quả hoạt động tại trƣờng Đại học Quang Trung” đƣợc tác giả bảo vệ thành công tại Trƣờng Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2012. Bên cạnh những dữ liệu thứ cấp, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp và tiến hành phỏng vấn sâu đối với Ban giám hiệu, có tính đại diện cho nhà trƣờng. Tác giả đã vận dụng lý thuyết về Thẻ điểm cân bằng để đánh giá kết quả quản lý tại trƣờng. Với việc sử dụng các phƣơng pháp nhƣ: Phỏng vấn, quan sát, so sánh, tổng hợp và phân tích, tác giả đã đi sâu vào phân tích, đánh giá đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu của trƣờng và đề xuất ra các giải pháp để vận dụng thẻ điểm cân bằng nhằm giúp nhà trƣờng đạt đƣợc những mục tiêu đã đề ra.
Đây là luận văn thạc sỹ đƣợc hội đồng đánh giá khá cao. Những điểm đƣợc phát hiện ra mặc dù chỉ trong phạm vi nhà trƣờng, chƣa có tính đại diện 6 nhƣng cũng chỉ ra đƣợc những khó khăn, cản trở và hạn chế của nhà trƣờng trong việc triển khai ứng dụng mô hình BSC. Nó cũng gợi mở ra cho những nghiên cứu sâu hơn về tình hình và khả năng triển khai thành công BSC trong các trƣờng học. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến thẻ điểm cân bằng và những nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến đề tài, tác giả đã vận dụng lý thuyết thẻ điểm cân bằng vào thực tiễn để đánh giá kết quả hoạt động tại trƣờng Đại học Tài chính – Kế toán nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn của trƣờng, để từ đó nâng cao uy tín của nhà trƣờng trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 1. Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của thẻ điểm cân bằng Những thƣớc đo truyền thống dựa trên các chỉ số tài chính không còn đủ mạnh và không còn phù hợp để kiểm soát, đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của một đơn vị trong tình hình mới, bởi vì chỉ số tài chính chỉ thể hiện kết quả của những hành động trong quá khứ chứ không phác thảo đƣợc những định hƣớng hoạt động trong tƣơng lai. Nếu chỉ dựa trên các chỉ số tài chính, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc kết nối mục tiêu của đơn vị, khó cân bằng đƣợc ƣu tiên ngắn hạn, dài hạn.
Vì vậy, họ cần một công cụ mới để đƣa ra một cái nhìn cân đối về tất cả các khía cạnh trong một đơn vị và đƣa ra cách thức đánh giá hiệu quả hoạt động một cách phù hợp hơn. Từ lý do đó, Giáo sƣ Robert Kaplan thuộc Đại học Harvard và Tiến sỹ David Norton đã khởi sƣớng công trình nghiên cứu khảo sát phƣơng pháp mới trong lĩnh vực đo lƣờng hiệu quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh. Và khái niệm “Thẻ điểm cân bằng” (Balanced ScoreCard - BSC) lần đầu tiên đƣợc giới thiệu trên Tạp chí Harvard Business Review năm 1992 nhằm cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá để tạo ra một môi trƣờng hoạt động hiệu quả và có tính cạnh tranh hơn. BSC đƣợc xem nhƣ là mô hình quản lý nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lƣợc của đơn vị thành những mục tiêu hoạt động cụ thể, những chỉ số có thể đo lƣờng đƣợc.
Thẻ điểm cân bằng với bốn viễn cảnh: Tài chính – Khách hàng – Quy trình nội bộ - Học hỏi và phát triển đã giúp cho các nhà quản lý có đƣợc bức tranh cân bằng về hiệu quả hoạt động hiện tại cũng nhƣ các nhân tố là động lực tăng trƣởng trong tƣơng lai. 8 BSC đã nhanh chóng đƣợc hàng ngàn các doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận khắp nơi trên thế giới áp dụng, trong đó có Việt Nam. Theo kết quả từ 12 cuộc nghiên cứu của Bain và Company đƣợc thực hiện trong 16 năm tại gần hơn 10.000 tổ chức của 70 quốc gia về các công cụ quản lý đƣợc sử dụng, mức độ sử dụng BSC tăng nhanh nhất với tốc độ trung bình 14% so với các công cụ quản lý khác. Trong kết quả khảo sát toàn cầu về các công cụ quản lý năm 2011 do hãng tƣ vấn Bain công bố, BSC đã lọt vào top 10 công cụ quản lý đƣợc sử dụng rộng rãi nhất thế giới.
Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng BSC trong đánh giá kết quả hoạt động Vào cuối thế kỷ 20, khi thời đại công nghiệp đang chuyển mình sang thời đại công nghệ thông tin, với sự gia tăng nhanh của tài sản vô hình trong khi đó các thƣớc đo tài chính truyền thống lại bị hạn chế. Vì vậy đòi hỏi cần phải có một công cụ để liên hệ giữa các thƣớc đo tài chính và phi tài chính. Sự gia tăng của tài sản vô hình Thời đại công nghệ thông tin bùng nổ với những phát minh mới và sự kết nối mạng internet toàn cầu đã làm cho những nhận định về cạnh tranh trong thời đại công nghiệp trở nên lạc hậu. Các tổ chức không còn có đƣợc lợi thế cạnh tranh từ ứng dụng khoa học công nghệ, cắt giảm chi phí, quản lý tốt tài chính,…mà thay vào đó lợi thế cạnh tranh của các tổ chức là khả năng huy động và triển khai tài sản vô hình nhƣ: thƣơng hiệu, sự trung thành của khách hàng, văn hóa, nguồn nhân lực, năng lực tổ chức,…chính những tài sản này mới mang lại sự thành công cho các tổ chức.
Khi giá trị tài sản vô hình gia tăng đòi hỏi tổ chức phải giám sát và tạo dựng các khả năng thu về lợi ích cho sự phát triển trong tƣơng lai. Theo nghiên cứu của viện Brooking, giá trị tài sản vô hình trong tổ chức không ngừng đƣợc đầu tƣ và tăng thêm. Cụ thể, năm 1982 giá trị này chiếm 38%, 9 đến năm 1992 là 62% và những năm đầu thế kỷ 21 là 75% (Nguồn: http://www. Hạn chế của các thước đo tài chính truyền thống Việc phụ thuộc gần nhƣ duy nhất vào những thƣớc đo tài chính truyền thống đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không thể khắc phục đƣợc khi đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ nhƣ hiện nay.
Một là, các thƣớc đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ thông tin để đánh giá kết quả hoạt động. Thông thƣờng, các báo cáo tài chính chỉ phản ánh những gì đã xảy ra trong quá khứ dựa trên các thƣớc đo tài chính mà không đề cập đến các thƣớc đo phi tài chính. Do vậy, nếu chỉ dựa vào thông tin trên báo cáo tài chính, ngƣời ta chỉ biết đƣợc tổ chức đó đã đạt những gì trong quá khứ mà không thể tiên lƣợng đƣợc các yếu tố nào sẽ quyết định đến sự thành công của tổ chức trong tƣơng lai. Hai là, nhà quản lý sử dụng thƣớc đo tài chính để đánh giá kết quả hoạt động có thể hy sinh lợi ích dài hạn để đạt đƣợc mục tiêu ngắn hạn.
Ba là, việc hạch toán kế toán có thể bị bóp méo để phục vụ cho mục đích tài chính ngắn hạn. Vì vậy, việc đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức nếu chỉ dựa vào các kết quả tài chính đƣợc thể hiện trên báo cáo tài chính có thể dẫn đến sai lệch không đúng với thực tế, làm cho thông tin cung cấp cho các đối tƣợng quan tâm không còn khách quan.