CHƯƠNG 1 : SỰ CẦN THIẾT VẬN DỤNG MÔ HÌNH THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TẠI CÔNG TY TNHH TM DV MÔI TRƯỜNG NGUYỆT MINH 2 1. Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2 1. Quá trình hình thành và phát triển Tháng 04/2009, Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2 được thành lập và chính thức đi vào hoạt động, toạ lạc tại Lô HF15, Đường số 4, Khu công nghiệp Xuyên Á, Xã Mỹ Hạnh Bắc, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An và là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong việc áp dụng công nghệ mới vào lĩnh vực sản xuất tái chế phế liệu kim loại màu tại Việt Nam với các hoạt động sản xuất kinh doanh: - Thoát nước và xử lý chất thải nguy hại - Tái chế phế liệu kim loại màu - Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác - Bán buôn kim loại và quặng kim loại - Vận tải hàng hóa bằng đường bộ. Trong đó hoạt động tái chế phế liệu kim loại màu và xử lý chất thải nguy hại là hoạt động chính của Công ty.
Việc xử lí, tái chế đem lại nguồn thu lớn cho công ty cũng như góp phần không nhỏ trong việc giảm thiểu, loại bỏ chất thải nguy hại phát sinh bị vứt bỏ bừa bãi, thải ra môi trường gây ô nhiễm. Tháng 12/2013: Thành lập văn phòng đại diện và kho chứa rác thải rắn với sức chứa 300 tấn tại số 513 Quốc Lộ 1A, Phường Bình Hưng Hòa, Quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Tháng 8/2014: Đạt chứng nhận ISO 14001:2004 về hệ thống quản lý môi trường.
Nhà máy của công ty đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường được Bộ Tài Nguyên và Môi Trường cấp phép hành nghề số: QLCTNH: 1-2-3-4-5-6.001VX và đến tháng 6/2016 được cấp chứng nhận đạt hệ thống quản lý chất lượng ISO 8 9001:2015. Với hơn 10 năm hoạt động trong ngành, Công ty đã dần khẳng định được vị thế của mình trên thị trường trong nước và thế giới trong ngành tái chế phế liệu kim loại màu. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh Công suất sản xuất: Hiện nay tổng công suất hoạt động của lò tái chế nhôm là: 120 tấn/ ngày và của chì là: 40 tấn/ ngày, hệ thống phá dỡ ắc quy 90 tấn/ ngày. Với công suất như trên, Công ty có khả năng đáp ứng các đơn đặt hàng có số lượng lớn.
Thị trường đầu vào: Nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu là các bình ắc quy chì phế thải, nhôm phế thải được thu mua từ các chủ vựa “ve chai”. Việc lập kế hoạch cung ứng vật tư và nguyên liệu phục vụ cho các phân xưởng sản xuất là nhiệm vụ của phòng mua hàng. Phòng mua hàng có mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp nên có nhiều sự lựa chọn khi có nhu cầu tìm kiếm nguồn vật tư. Tuy nhiên, khả năng cập nhật thông tin giá cả thị trường, dự báo xu hướng giá còn thụ động, khả năng thương lượng giá mua còn chưa tốt nên chi phí cho các yếu tố đầu vào còn cao.
Thị trường tiêu thụ: Sản phẩm của Công ty chủ yếu 90% dành cho xuất khẩu chủ yếu là các thị trường Nhật Bản, Ấn Độ, … và 10% cho tiêu thụ trong nước. Lợi nhuận qua các năm: Qua hình1.1 dưới đây cho ta thấy lợi nhuận năm 2018 giảm đi rất nhiều so với năm 2017, cụ thể là giảm 40,62%. Sự sụt giảm đáng kể về lợi nhuận này được phân tích là do chi phí hoạt động trong năm 2018 tăng cao, cụ thể là tăng 56,88% trong khi doanh thu tăng chỉ 16% so với năm 2017 dẫn đến lợi nhuận năm 2018 giảm đáng kể. Nguyên nhân chủ quan là do công tác quản lý và kiểm soát chi phí chưa tốt làm phát sinh chi phí quá nhiều dẫn đến lợi nhuận giảm.
9 Lợi nhuận 30,000,000,000 25,000,000,000 20,000,000,000 15,000,000,000 Lợi nhuận 10,000,000,000 5,000,000,000 0 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Hình 1.1 Biểu đồ lợi nhuận tại Công ty giai đoạn 2015-2018 (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tài chính của Công ty năm 2015-2018) Quy mô công ty: Bảng 1.1 Quy mô Công ty giai đoạn 2015-2018 (ĐVT: Triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Doanh thu 756.525 Vốn chủ sở hữu 22.112 (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tài chính của Công ty năm 2015-2018) Chính sách quảng cáo, khuyến mãi: Công ty đã quảng cáo thương hiệu của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia quyên góp vào các quỹ hỗ trợ học sinh - sinh viên trên địa bàn nhằm quảng bá thương hiệu của mình. Tuy nhiên, công ty gần như chưa có chiến lược hoạt động marketing đúng nghĩa, chưa có một chương trình kế hoạch cụ thể, dài hạn và bài bản. Cơ cấu tổ chức tại Công ty Hiện nay bộ máy tổ chức của Công ty gồm có: Giám đốc, Phó Giám đốc điều hành, Phó Giám đốc nhà máy, Phó Giám đốc kỹ thuật và 10 bộ phận phòng ban. GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH P.
GIÁM ĐỐC NHÀ PHÒNG HÀNH P. GIÁM ĐỐC KỸ MÁY CHÍNH KẾ TOÁN THUẬT PHÂN XƯỞNG PHÒNG KINH PHÒNG KỸ THUẬT SX CHÌ DOANH PHÂN XƯỞNG PHÒNG XUẤT PHÒNG CƠ ĐIỆN, SX NHÔM NHẬP KHẨU BẢO TRÌ PHÒNG MUA HÀNG PHÒNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG PHÒNG MÔI TRƯỜNG Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2 (Nguồn: Tài liệu nội bộ Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2, 2018) 1. Tổ chức công tác kế toán tại Công ty a. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Chế độ kế toán: Doanh nghiệp áp dụng theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam được ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp và Thông tư 53/2016/TT-BTC ngày 21/03/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 200/2014/TT-BTC.
Chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí tại phòng kế toán được mô tả cụ thể tại 11 Phụ lục 16. Kế toán trưởng Kế toán tổng hợp Kế toán giá Kế toán tiền lương Kế toán Thủ quỹ thành và bảo hiểm xã hội kho Hình 1.3 Sơ đồ bộ máy kế toán tại Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2 (Nguồn: Tài liệu nội bộ Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2, 2018) b. Tổ chức công tác kế toán tại Công ty Đối với công tác kế toán tài chính: Nhìn chung có sự phân công trách nhiệm, nhiệm vụ rõ ràng và có sự phối hợp giữa bộ phận kế toán các phần hành cũng như giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp, chính vì vậy cơ bản đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho các nhà quản lý Công ty. Đối với công tác kế toán quản trị: Công ty chưa tổ chức bộ phận kế toán quản trị riêng biệt.
Tuy nhiên khi các nhà quản lý cần thông tin về các chỉ tiêu tài chính thì Kế toán trưởng có nhiệm vụ tính toán, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo dựa trên các dữ liệu của Báo cáo tài chính, báo cáo nội bộ của Công ty để cung cấp cho các nhà quản lý. Hệ thống báo cáo kế toán: Báo cáo tài chính; báo cáo chi tiết nợ phải thu, phải trả, tạm ứng; báo cáo nhập xuất tồn trong tháng; các báo cáo phân tích doanh thu kế hoạch và thực hiện; báo cáo hiệu quả kinh doanh từng tháng; báo cáo giá thành kế hoạch và thực hiện; … 12 1. Sự cần thiết vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty TNHH TM DV Môi Trường Nguyệt Minh 2 1. Sự cần thiết vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động hiện nay Dưới đây là một số nguyên nhân khiến cho việc áp dụng mô hình thẻ điểm cân bằng là hết sức cần thiết trong thời đại công nghệ thông tin với sự cải tiến phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ khi tham gia vào quy trình sản xuất.
Sự gia tăng tài sản vô hình Theo Kaplan, 1996, tài sản vô hình trong tổ chức có thể kể đến như: lòng trung thành của khách hàng, quan hệ khách hàng, quy trình hoạt động hiệu quả, sản phẩm và dịch vụ độc đáo, trình độ và năng lực nhân viên, hệ thống thông tin, văn hóa doanh nghiệp,…. Trong hơn 20 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự đảo chiều ngoạn mục của tỉ trọng khối tài sản vô hình trong doanh nghiệp. Theo công ty đầu tư tài chính danh tiếng Ocean Tomo, đến 2015, tài sản vô hình chiếm 84% tại top 500 công ty có vốn hóa trên thị trường lớn nhất niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ. Con số này vào năm 1985 chỉ là 32%.
Điều này nghĩa là hiện có một khối lượng lớn tài sản của tổ chức không được đo lường và định giá chính xác, cụ thể. Vì lẽ đó, để quản lý và nâng cao các giá trị được tạo ra bởi tài sản vô hình, các tổ chức cần thiết kế một hệ thống đo lường hiệu quả. Sự hạn chế của các thước đo truyền thống Thước đo tài chính truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế trong đánh giá thành quả hoạt động của các tổ chức trong thời đại thông tin. Thứ nhất là không hữu hiệu trong việc cung cấp thông tin để đánh giá thành quả hoạt động.
Các thông tin phi tài chính không được thể hiện đầy đủ trên BCTC 13 hiện nay như các tài sản vô hình thuộc về trí tuệ và năng lực của doanh nghiệp vì không xác định được cách thức đo lường các tài sản này. Thứ hai là các thước đo tài chính thường được các nhà quản lý sử dụng để đạt được các mục tiêu ngắn hạn, mà bỏ qua các lợi ích trong dài hạn. Ví dụ để tối thiểu hóa chi phí thì trong ngắn hạn cách nhanh nhất là cắt giảm lao động, tuy nhiên, việc này sẽ làm quy mô công ty bị thu hẹp, giá trị của tổ chức trong dài hạn bị phá hỏng. Hiện nay, một vài công cụ để đánh giá thành quả hoạt động và khắc phục những nhược điểm của hệ thống đo lường truyền thống được đề xuất như sau: % các tổ chức sử dụng những khuôn mẫu này Bảng điểm cân bằng 62% Tùy chỉnh 15% Quản lý chất lượng toàn diện 13% EVA 3% Khác 7% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% Hình 1.4 Tình hình sử dụng khuôn mẫu lý thuyết vào việc đo lường thành quả hoạt động tại các tổ chức trên thế giới (Nguồn: Kaplan et al, 2012, trang 19) Qua hình 1.4 cho thấy thẻ điểm cân bằng được sử dụng nhiều nhất trong đo lường thành quả hoạt động tại các tổ chức trên thế giới (chiếm đến 62%).