CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị 1.1 Trên thế giới Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển ở vào những năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Đầu tiên, kế toán quản trị xuất hiện dưới hình thức kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin chủ yếu cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sản xuất kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để doanh nghiệp chống đỡ sức ép từ các doanh nghiệp lớn. Sau đó, với thực tiễn hữu hiệu, hiệu quả, kế toán quản trị bắt đầu được chú ý, áp dụng, phát triển rất nhanh trong những loại hình doanh nghiệp khác và trong cả những tổ chức phi lợi nhuận như cơ quan của Nhà nước, bệnh viện, trường học…. Ngày nay, kế toán quản trị có xu hướng hình thành, phát triển trước trong những doanh nghiệp lớn có trình độ khoa học – kỹ thuật – quản trị tiên tiến, điều kiện cơ sở vật chất hiện đại và sau đó mở rộng sang những doanh nghiệp nhỏ, khoa học – kỹ thuật – quản trị, điều kiện cơ sở vật chất lạc hậu.
Tương lai, kế toán quản trị chuyển sang một kỷ nguyên mới, rất gần với quản trị, là một công cụ hợp nhất giữa chiến lược kinh doanh với thị trường, hợp nhất giữa kiểm soát, thông tin phản hồi với thông tin định hướng và là một bộ phận thiết yếu của quản trị, kế toán chiến lược. Xét về phạm vi thông tin kế toán quản trị, quá trình hình thành, phát triển kế toán quản trị trong doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn cơ bản với những nội dung khác nhau: - Giai đoạn thứ nhất, khoảng trước những năm 1950, kế toán quản trị được xem như là một phương pháp kỹ thuật xác định, phân bổ chi phí sản xuất để tính giá vốn sản phẩm chế tạo, giá vốn hàng bán và lập dự toán chi phí sản xuất nhằm cung cấp thông tin tài chính cho nhà quản trị kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất; 123doc 4 - Giai đoạn thứ hai, khoảng những năm 1965 cho đến nay, kế toán quản trị được xem như là chuyên môn kế toán phản ánh, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho nhà quản trị thực hiện toàn diện hơn các chức năng quản trị. Xét về trọng tâm thông tin, quá trình hình thành, phát triển kế toán quản trị trong doanh nghiệp trải qua 4 giai đoạn cơ bản với trọng tâm thông tin khác nhau: - Giai đoạn thứ nhất: Trước những năm 1950 – Xác định và kiểm soát chi phí. - Giai đoạn thứ hai: vào những năm 1965 – Cung cấp thông tin để hoạch định và kiểm soát quản lý.
- Giai đoạn thứ ba: vào những năm 1985 – Hướng đến cung cấp thông tin giảm tổn thất nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Giai đoạn thứ tư: vào những năm 1995 – Tạo ra giá trị thông qua sử dụng hiệu quả nguồn lực. Sự phát triển kinh tế, xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức khác nhau về kế toán, kế toán quản trị và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật nhu cầu về kế toán quản trị, thúc đẩy phát triển kế toán quản trị, thông tin phục vụ cho nâng cao năng lực quản trị - cạnh tranh để bổ sung toàn diện, hoàn thiện hơn hệ thống thông tin kế toán trong môi trường sản xuất kinh doanh thay đổi rất nhanh. Kế toán quản trị được xem như là quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra, định lượng để trình bày, giải thích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp thực hiện toàn diện các chức năng quản trị.2 Ở Việt Nam Kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống dự toán ngân sách và quản trị chi phí.
Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác. Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát triển rầm rộ. Sự ra đời của kế toán quản trị được đánh dấu khi Luật Kế toán Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về kế toán quản trị ở các đơn vị như sau: kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu 123doc 5 cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị. Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát.
Do đó việc hiểu và vận dụng kế toán quản trị ở các doanh nghiệp Việt Nam còn rất mơ hồ. Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn về thực hiện kế toán quản trị tại trường Đại học Kinh tế TP. Có thể nói, đây là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện kế toán quản trị tại Việt Nam. Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện kế toán quản trị.
Qua quá trình gần 30 năm phát triển, kế toán quản trị tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp. Do vậy việc hiểu và vận dụng một cách có hiệu quả các công cụ của kế toán quản trị là yêu cầu cấp thiết, có vai trò to lớn trong việc nâng cao khả năng hội nhập, khả năng quản lý và điều hành của mỗi doanh nghiệp hiện nay.2 Định nghĩa về kế toán quản trị Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998: “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”. Theo nhóm tác giả Anthony A.mark Young: “Kế toán quản trị là một quy trình cải tiến không ngừng việc hoạch định, thiết kế, đo lường hệ thống thông tin tài chính, thông tin phi tài chính hoạt động của doanh nghiệp để hướng dẫn, thúc đẩy hành động, hành vi quản trị và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp tạo nên giá trị văn hóa kinh doanh cần thiết nhằm đạt chiến lược, chiến thuật và mục tiêu của doanh nghiệp.” 123doc 6 Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ: “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ”. Theo Luật Kế Toán Việt Nam, Kế toán quản trị “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo thông tư 53/2006/TT-BTC thì thông tin hoạt động nội bộ mà Kế toán quản trị cung cấp có thể là: chi phí của từng bộ phận, từng công việc, từng sản phẩm; phân tích đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn, dài hạn, lập dự toán ngân sách nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Qua các định nghĩa trên có thể đưa ra khái niệm tổng quát về kế toán quản trị như sau: “Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp.3 So sánh giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 1.1 Những điểm giống nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính và KTQT có nhiều điểm giống nhau và là hai bộ phận không thể tách rời của kế toán doanh nghiệp. Những điểm giống nhau cơ bản là: - Kế toán tài chính và KTQT đều đề cập đến các sự kiện kinh tế tài chính diễn ra trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn sở hữu, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. 123doc 7 - Kế toán tài chính và KTQT đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán.
Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để kế toán tài chính ghi chép, hạch toán và từ đó soạn thảo các báo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng bên ngoài. Đối với KTQT, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng và xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị. - Kế toán tài chính và KTQT đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý. Kế toán tài chính thể hiện trách nhiệm của người quản lý cấp cao còn KTQT thể hiện trách nhiệm của nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp.2 Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Tiêu thức so Kế toán tài chính Kế toán quản trị sánh - Người sử dụng thông tin của - Người sử dụng thông tin của KTTC là những người ở bên ngoài KTQT là những nhà quản lý 1.