PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xu hƣớng toàn cầu hóa đang ngày càng có những ảnh hƣởng quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, Việt Nam hiện là một trong những nƣớc đang trên đà hội nhập sâu và rộng, trong năm 2015, đã có 12 hiệp định thƣơng mai tự do đƣơc hoàn tất và đặc biệt hơn, đó là việc kí kết xác thực lời văn của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng vào tháng 2/2016. Để thực hiện tốt quá trình hội nhập này, các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ.
Tuy nhiên, một thực trạng chung của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đó là hiệu quả hoạt động không cao và các chƣơng trình hành động thì rời rạc và thiếu sự gắn kết và nhất là các mục tiêu chiến lƣợc phi tài chính thì chƣa đƣợc đo lƣờng và đánh giá một cách rõ rang và chi tiết. Nguyên nhân cốt lõi của hiện tƣợng này xuất phát từ việc hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, chƣa có một hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động phù hợp với đơn vị. Một trƣờng hợp cụ thể, đó là Công ty TNHH Scandinavian Design Việt Nam. Hiện tại, công ty có những chiến lƣợc kinh doanh hƣớng đến các mục tiêu phi tài chính dài hạn nhƣng hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động còn đơn giản và không đủ khả năng đo lƣờng hiệu quả cho việc thực hiện những chiến lƣợc này, do vậy, việc hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động ngày càng trở thành một nhu cầu thiết yếu của công ty.
Mặt khác, những bài học kinh nghiệm về quá trình hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động cho thấy, rất nhiều tổ chức ở trong và ngoài nƣớc sử dụng lý thuyết Thẻ điểm cân bằng làm cơ sở và đã đạt đƣợc những thành công nhƣ Vietel, FPT, Electrolux,… Ngoài ra, Thẻ điểm cân bằng hiện tại đƣợc thống kê là một trong mƣời công cụ quản lý đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. 123doc 2 Vì lẽ đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Ứng dụng Thẻ điểm cân bằng nhằm hoàn thiện hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design Việt Nam”, góp phần tạo ra một cơ sở đầy đủ và đúng đắn giúp công ty thực hiện thành công những chiến lƣợc đã đề ra. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Ứng dụng Thẻ điểm cân bằng nhằm hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: - Đánh giá thực trạng việc đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design Việt Nam.
- Hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design theo mô hình Thẻ điểm cân bằng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là việc ứng dụng lý thuyết Thẻ điểm cân bằng nhằm hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động theo bốn phƣơng diện của BSC tại Công ty TNHH Scandinavian Design Việt Nam, việc xây dựng kế hoạch để ứng dụng hệ thống đo lƣờng này cũng nhƣ công tác đo lƣờng và đánh giá kết quả đo lƣờng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận văn. Ngoài ra, hệ thống đo lƣờng đƣợc hoàn thiện ở cấp độ đơn vị, không cụ thể cho cấp độ phòng ban và bộ phận trong công ty.
Không gian nghiên cứu: Công ty TNHH Scandinavian Design. Thời gian thực hiện nghiên cứu: 20/05/2016 – 20/10/2016, dữ liệu đƣợc trích xuất từ 01/01/2014 – 20/10/2016. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng phƣơng pháp định tính: Tổng hợp, phân tích, đánh giá, thảo luận và phƣơng pháp Delphi, cụ thể: - Ở chƣơng 1, tác giả tổng hợp các nội dung về Thẻ điểm cân bằng và hiệu quả hoạt động để tạo một cơ sở lý thuyết đầy đủ và có hệ thống cho luận văn. Sau đó, tác giả phân tích và đánh giá một số bài học về việc ứng dụng Thẻ điểm cân bằng vào tổ chức của Việt Nam và thế giới để hiểu sâu hơn về Thẻ điểm cân bằng thông qua những ví dụ thực tiễn này.
- Ở chƣơng 2, luận văn phân tích và đánh giá về thực trạng việc đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design Việt Namthông qua những dữ liệu nội bộ nhằm biết đƣợc những hạn chế của cách thức đo lƣờng hiện tại trong tổ chức. - Dựa trên những hạn chế đƣợc rút ra ở chƣơng 2, tác giả thảo luận với chuyên gia và sử dụng phƣơng pháp Delphi nhằm hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại đơn vị. Về mặt dữ liệu: Nguồn dữ liệu thứ cấp đƣợc lấy từ các báo cáo tài chính và các báo cáo nội bộ của Công ty TNHH Scandinavian Design từ 01/2014 – 10/2016. Nguồn dữ liệu sơ cấp đƣợc lấy từ việc phỏng vấn ban lãnh đạo, chuyên gia và khách hàng của công ty.
Kết cấu đề tài Đề tài đƣợc thực hiện bào gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về Thẻ điểm cân bằng và hiệu quả hoạt động của tổ chức. Chƣơng 2: Thực trạng công tác đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design. Chƣơng 3: Ứng dụng Thẻ điểm cân bằng nhằm hoàn thiện hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Scandinavian Design. 123doc 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG ĐO LƢỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 1.1 Tổng quan về hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động của tổ chức 1.1 Khái niệm và chức năng của hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động Khái niệm: Hệ thống đo lƣờng hiệu quả hoạt động (Performance Measurement System – PMSs) là tập hợp các thƣớc đo đƣợc sử dụng để định lƣợng hiệu quả của các hành động (Neely và cộng sự, 2005).
Chức năng: Theo Kueng và cộng sự (2001), PMSs thực hiện các chức năng: - Theo dõi hoạt động của tổ chức - Hỗ trợ thông tin liên lạc bên trong và bên ngoài tổ chức về kết quả hoạt động - Hỗ trợ nhà quản trị trong việc ra các quyết định - Tạo điều kiện cho tổ chức trở thành tổ chức học tập 1.2 Khái niệm hiệu quả Khái niệm: Theo giáo trình quản trị học của khoa Quản trị, trƣờng Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, hiệu quả thể hiện sự tƣơng quan giữa kết quả đạt đƣợc và mục tiêu đề ra. Sự khác nhau của hiệu quả và hiệu suất: Khác với hiệu quả, hiệu suất thể hiện sự tƣơng quan giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.2 Tổng quan về thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) 1.1 Nguồn gốc và quá trình phát triển của lý thuyết Thẻ điểm cân bằng Việc đánh giá hiệu quả hoạt động theo cách truyền thống đƣợc thực hiện dựa trên các chỉ số tài chính.Tuy nhiên, vào năm 1990, Viện nghiên cứu Nolan Norton đã tìm ra bằng chứng cho thấy công ty có thể đƣa ra những quyết định sai lầm nếu dựa vào kết quả đo lƣờng hiệu quả hoạt động mà chỉ sử dụng các chỉ số tài chính, bằng chứng này đƣợc tìm thấy thông qua việc nghiên cứu từ rất nhiều công ty khác nhau. 123doc 5 Quan điểm này cho rằng các hệ thống báo cáo tài chính truyền thống chỉ cung cấp thông tin về kết quả hoạt động của một tổ chức trong quá khứ mà hầu nhƣ không thể cung cấp thông tin dự báo về kết quả hoạt động của tổ chức đó trong tƣơng lai.
Ví dụ nhƣ một công ty có thể hạn chế công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm giảm chi phí hoạt động, từ đó gia tăng lợi nhuận trong hiện tại. Nhƣng xét trong dài hạn, việc hạn chế công tác đào tạo có thể ảnh hƣởng xấu đến năng lực cạnh tranh của công ty, từ đó, giảm lợi nhuận của công ty. Do vậy, David P.Norton, giám đốc điều hành Viện nghiên cứu và Robert S.Kaplan, cố vấn chuyên môn của mƣời ba công ty từ các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, công nghiệp nặng và công nghệ cao đã thử nghiệm nhiều giải pháp và đƣa ra ý tƣởng về thẻ điểm cân bằng. Hai tác giả tổng kết kết quả nghiên cứu này trong bài viết Thẻ điểm cần bằng – Những thƣớc đo dẫn dắt hiệu quả hoạt động đƣợc xuất bản năm 1992 trên tạp chí Havard Business Review.
Tiếp theo, David P.Norton và Robert S.Kaplan tiếp tục phân tích tầm quan trọng của việc lựa chọn các thƣớc đo trong Thẻ điểm cân bằng khi liên kết với chiến lƣợc trong bài nghiên cứu có tên tiếng Việt là Áp dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng trong thực tiễn trên tờ Harvard Business Review số tháng 9 và tháng 10 năm 1993. Kể từ đó, trong quá trình áp dụng vào các doanh nghiệp, Thẻ điểm cân bằng từ vai trò là một hệ thống đo lƣờng đã phát triển thành một hệ thống quản lý vô cùng hữu ích. Năm 1996, hai tác giả trên đã tổng kết lại những điểm mới này trong cuốn sách mang tên Thẻ điểm cân bằng – Biến chiến lƣợc thành hành động. Đến năm 2001, ngày càng có nhiều doanh nghiệp áp dụng thành công lý thuyết về Thẻ điểm cân bằng, hai tác giả đã ghi lại những kinh nghiệm của các tổ chức này qua tựa sách “Tổ chức tập trung vào chiến lƣợc: Các công ty sử dụng Thẻ điểm cân bằng phát đạt nhƣ thế nào trong môi trƣờng kinh doanh mới”.
Các mục tiêu trong bốn phƣơng diện của Thẻ điểm cân bằng đƣợc liên kết với nhau theo quan hệ nhân và đƣợc đặt tên là bản đồ chiến lƣợc. Điểm mạnh của bản đồ chiến lƣợc là tính liên kết quan hệ nhân quả và biến tài sản vô hình thành kết quả hữu hình.Norton và Robert S.Kaplan tổng kết lại quá trình phát triển của lý thuyết về Thẻ điểm cân bằng nhằm khẳng định lại lợi ích của việc ứng dụng Thẻ điểm cân bằng trong tổ chức. Ngoài ra, hai tác giả còn đề cập đến một số kinh nghiệm của các tổ chức đã áp dụng Thẻ điểm cân bằng nhƣ là một bài học cho các doanh nghiệp có ý định ứng dụng BSC vào hoạt động của mình. Tính từ năm 1996, có hơn một nửa doanh nghiệp trong danh sách Fortune 1000 đã ứng dụng Thẻ điểm cân bằng.
Ngoài ra, Thẻ điểm cân bằng đƣợc tạp chí Harvard Business Review bình chọn là một trong 75 ý tƣởng có sức ảnh hƣởng nhất thế giới trong thế kỷ 20.