Chương 1 đã giới thiệu một cách tổng quan về đề tài nghiên cứu, Chương 2 sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ sở lý thuyết đồng thời xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tiễn phạm vi đề tài dựa trên các mô hình nghiên cứu đi trước. Đây chính là phần căn bản, phần xương sống cốt lõi của toàn bộ nghiên cứu. Chương 2 gồm hai phần chính: Cơ sở lý thuyết – trình bày các lý thuyết cơ sở liên quan đến năng suất và Mô hình nghiên cứu – đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các doanh nghiệp thiết kế xây dựng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Phần cơ sở lý thuyết sẽ giới thiệu những định nghĩa và khái niệm về năng suất, hành vi năng suất, vấn đề về năng suất trong các doanh nghiệp, mối liên hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đây sẽ là những cơ sở để đưa ra các giả thuyết nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu về sau. Định nghĩa về năng suất Năng suất là một trong những thuật ngữ phổ biến nhất mà con người sử dụng (Mangat 2010), trong đó khái niệm phổ biến nhất, cũng được xem là khái niệm theo quan điểm truyền thống của năng suất đó là mối quan hệ/tỷ số giữa các kết quả đầu ra với các kết quả đầu vào để hình thành ra đầu ra đó (Bernolak 1980; National Productivity Centre – NPC 1999). Tiếp cận năng suất dưới quan điểm này cho rằng, năng suất được đo lường bằng số lượng hay khối lượng sản phẩm do một lao động tạo ra trên một đơn vị thời gian hay còn được hiểu là năng suất lao động. Năng suất theo quan điểm truyền thống nhấn mạnh các yếu tố đầu vào, nhất là các yếu tố về lao động và vốn mà bỏ qua sự ảnh hưởng của những yếu tố năng suất tổng hợp TFP – những yếu tố như hệ thống quản lý, phương pháp làm việc, công nghệ… (Trần Thị Kim Loan 2009).
7 Với mong muốn khắc phục hạn chế cơ bản của quan điểm truyền thống khi chưa quan tâm đến các yếu tố đầu ra (về chất lượng sản phẩm, phân phối sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng…), hệ thống những khái niệm tiếp cận năng suất theo hướng mới đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, trong đó tùy theo những giai đoạn khác nhau của nền kinh tế mà người ta lại tập trung vào những khía cạnh khác nhau của năng suất (Mangat 2010). Theo cách tiếp cận mới, bên cạnh việc sử dụng đầu vào một cách tối ưu, năng suất còn biểu hiện thông qua chất lượng và tính hữu ích của đầu ra (Trần Thị Kim Loan 2009). Sau đây là một vài định nghĩa năng suất tiếp cận theo quan điểm mới: - Năng suất không phải là một cái gì đó xa rời thực tế, nó xảy ra trong từng tổ chức có sử dụng người lao động từ vị trí cao cấp nhất cho đến vị trí thấp nhất. Một yêu cầu quan trọng là làm thế nào để mọi người phải làm việc cùng với nhau để đạt được một mục tiêu chung của tổ chức đi kèm với sự giàu sang, sung túc cho tất cả mọi thành viên trong tổ chức đó (Shurchuluu 2002).
- Srinivasan (2002) cho rằng tỷ số đơn thuần giữa đầu ra và đầu vào (định nghĩa năng suất theo quan điểm truyền thống) không thực sự bao hàm được toàn bộ ý nghĩa của năng suất, bởi vì sản phẩm của một công ty bao gồm cả những giá trị vô hình to lớn, do đó để đo lường năng suất một cách chính xác cần phải đo lường những giá trị vô hình này. Theo quan điểm này, hiệu suất và hiệu quả là cách tốt nhất để làm sáng tỏ định nghĩa về năng suất. - Theo tổ chức hiệu suất và đổi mới (Performance and Innovation Unit – PIU) (2001), năng suất là hiệu suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực của tổ chức. - Theo Gharneh (1997), năng suất là con đường cạnh tranh của doanh nghiệp, là con đường phát triển kinh tế của đất nước và là con đường tạo ra sự hạnh phúc và thịnh vượng cho quốc gia.
- Năng suất bao hàm ý nghĩa với nguồn lực đã được sử dụng chúng ta đã tạo ra bao nhiêu với chất lượng như thế nào. Nguồn lực bao gồm cả nguồn lực về con 8 người lẫn vật chất (như đất, nhà xưởng, tài sản/thiết cố định và lưu động, nguyên vật liệu…) (Bernolak 1997). - Năng suất là việc sử dụng tối ưu các nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và cổ đông, tức là tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua việc thỏa mãn ở mức cao nhất sự hài lòng của khách hàng với giá thành thấp nhất có thể có được (Phan Quốc Nghĩa 2004). Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy rằng, dù xét dưới bất kỳ hình thức hay khía cạnh nào thì năng suất cũng là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến tất cả các thành viên trong tổ chức và mục tiêu của tổ chức nói riêng cũng như ảnh hưởng đến sự thịnh vượng và phát triển của một quốc gia nói chung.
Việc gia tăng năng suất không chỉ đem lại lợi ích cho tất cả các đối tượng đã đề cập trên mà nó còn thể hiện cách thức con người tổ chức công việc một cách hiệu quả mà vẫn tiết kiệm được nguồn lực đầu vào, bảo vệ môi trường thiên nhiên và góp phần nâng cao, cải thiện cuộc sống của con người. Vì vậy, vấn đề về năng suất cần phải nhận được sự quan tâm thích đáng của doanh nghiệp nói chung cũng như tất cả các con người làm việc trong doanh nghiệp nói riêng. Hành vi năng suất Hành vi năng suất được định nghĩa như là hành vi tích cực của người lao động góp phần vào hoàn thành mục tiêu và sứ mạng của toàn tổ chức (Nguồn:http://en.org/wiki/Industrial_and_organizational_psychology#Pro ductive_behavior). Điều này có nghĩa là khi một người lao động bắt đầu một công việc mới, họ chưa thể nào có những đóng góp tích cực cho công ty, họ cần có một thời gian huấn luyện để hòa nhập được với tổ chức mới.
Trong lãnh vực tài chính, hành vi năng suất được thể hiện vào thời điểm mà tổ chức bắt đầu nhận được những kết quả hữu ích từ nhân viên mới vào. Theo Shurchuluu (2002) để đạt được năng suất như mong muốn thì tất cả mọi cá nhân trong tổ chức, từ những người lao động bình thường cho đến các vị lãnh đạo 9 cấp cao đều phải thể hiện chung một hành vi năng suất. Hành vi năng suất được minh họa bằng ba yếu tố sau đây: - Tất cả các cá nhân trong tổ chức phải cam kết luôn luôn giao sản phẩm hoặc dịch vụ chất lượng tốt cho khách hàng đúng lúc; - Tất cả các cá nhân trong tổ chức phải cam kết loại trừ lãng phí về nguồn lực như thời gian, không gian, vật liệu. cho toàn bộ công ty chứ không phải chỉ tập trung loại trừ lãng phí ở bộ phận của mình; - Tất cả các cá nhân trong tổ chức phải cư xử theo cùng một cách để tạo ra niềm tin cho tất cả các cá nhân trong công ty không kể cấp bậc của người đó.
Lý do cần phải nghiên cứu về năng suất trong doanh nghiệp Như đã trình bày trong phần Lý do hình thành đề tài về tầm quan trọng của năng suất trong doanh nghiệp nói riêng và trong toàn quốc gia nói chung, chúng ta có thể thấy được năng suất là một vấn đề thực sự cấp thiết đối với đất nước Việt Nam chúng ta hiện nay. Mục tiêu của việc đo lường năng suất là nhằm giúp doanh nghiệp xác định năng suất hiện tại của mình, xác định những điều đã làm tốt và những điều làm chưa tốt, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm cải tiến năng suất hiện tại, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời tiết kiệm tối đa nguồn lực mà doanh nghiệp đang có. Ngoài ra, theo Bernolak (1997), việc tập trung phát triển năng suất đem lại lợi ích cho tất cả các thành phần có liên quan tới doanh nghiệp, từ những người lao động cho tới các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, từ khách hàng riêng của doanh nghiệp cho đến toàn bộ dân số trong một quốc gia thông qua sự đóng góp của doanh nghiệp cho chính phủ. Đầu tiên, đối với người lao động, lợi ích dễ nhận biết nhất khi năng suất được nâng cao đó chính là việc ổn định công việc, lương và các điều kiện làm việc tốt hơn, có nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp hơn… Còn đối với các nhà sử dụng lao động – lãnh đạo doanh nghiệp, việc gia tăng năng suất đồng nghĩa với việc gia 10 tăng lợi nhuận, gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo ra một lợi thế phát triển ổn định và bền lâu, cắt giảm được lãng phí… Kế đến, việc gia tăng năng suất cũng góp phần đem lại lợi ích cho khách hàng thông qua việc chất lượng của sản phẩm/dịch vụ được cải thiện tốt hơn, giá cả tốt hơn… Gia tăng năng suất cũng đóng góp rất nhiều cho lợi ích cộng đồng thông qua việc đóng góp thuế cho chính phủ (mà không cần tăng thuế) góp phần không nhỏ vào các hoạt động dịch vụ xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo… Từ những lợi ích hiện hữu đã kể trên, đi kèm với việc phân tích lợi ích của năng suất dưới góc độ doanh nghiệp, ta có thể thấy được tác dụng của việc đo lường và tăng cao năng suất thể hiện trong một vài điểm tóm tắt sau: - Theo dõi và đo lường năng suất thường xuyên giúp cho doanh nghiệp có được tập cơ sở dữ liệu phục vụ cho quá trình cải tiến năng suất, qua đó thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp đồng thời giám sát các mục tiêu đó được tốt hơn; - Đo lường năng suất giúp cho doanh nghiệp phát hiện những vấn đề ảnh hưởng đến năng suất chung của toàn doanh nghiệp, từ đó lên kế hoạch khắc phục nhằm nâng cao năng suất chung; - Đánh giá hiệu quả việc thực hiện các công việc, so sánh hiệu quả thực hiện của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh và tiêu chuẩn ngành; - Cung cấp cơ hội để học hỏi và lôi kéo sự tham gia của mọi thành viên.
Giúp cho việc huy động nguồn nhân lực trong tổ chức thông qua việc chia sẻ các thành quả về năng suất.