Chương 1 – Giới thiệu: Chương này giới thiệu tổng quan về Thẻ điểm cân bằng, lý do hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa của đề tài. Chương 2- Cơ sở lý thuyết: Chương này phân tích những lý thuyết về Thẻ điểm cân bằng, đánh giá hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp, hình thành khung nghiên cứu cho đề tài. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày chi tiết các bước để thực hiện đề tài, thang đo và kế hoạch lấy mẫu. Chương 4 – Giới thiệu công ty: Chương này giới thiệu sơ lược về công ty Ruthimex và các thông tin liên quan để thực hiện nghiên cứu gồm: tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu tổ chức tại công ty và Dự án Molten.
Chương 5 – Kết quả xây dựng Thẻ điểm cân bằng: Trong chương này, các thông tin cần thiết được xác định để xây dựng Bản đồ chiến lược, các mục tiêu, thước đo và tiêu chí đo lường hiệu suất cho Dự án Molten. Sau đó, một số thước đo được tính toán giá trị dựa trên dữ liệu hiện tại và được khảo sát trong đội ngũ quản lý cấp trung để có đánh giá bước đầu về hiệu suất của Dự án Molten. Chương 6 – Phân tích và đề xuất biện pháp cải tiến: Dựa trên kết quả đánh giá hiệu suất ở Chương 5, Chương 6 sẽ phân tích các điểm mạnh và điểm yếu của Dự án trên 04 phương diện: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ và Học hỏi phát triển. Sau đó, tác giả sẽ đề xuất định hướng để cải thiện hiệu suất hoạt động của Dự án Molten nhằm đạt được tầm nhìn và chiến lược được đề ra Bởi ban điều hành Dự án Molten.
- Trang 5/92 - Chương 7- Kết luận và kiến nghị: Chương này sẽ tóm tắt các kết quả chính đã đạt được trong nghiên cứu, đưa ra các giới hạn của đề tài và kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo. - Trang 6/92 - Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. CÁC KHÁI NIỆM Đo lƣờng hiệu suất (Performance Measurement) được định nghĩa là quá trình định lượng hiệu quả và hiệu suất của hành động. Hiệu quả là mức độ yêu cầu của khách hàng được đáp ứng, còn hiệu suất đo lường các nguồn lực của công ty đã được sử dụng kinh tế như thế nào khi tạo ra sự hài lòng của khách hàng ở mức độ đã được xác định trước.
(Neely & cộng sự, 1995, dẫn theo Pasutham, 2012) Hệ thống đo lƣờng hiệu suất (Performance Measurement System – PMS) được mô tả như một bộ tổng thể các yếu tố được sử dụng để định lượng cả hiệu quả và hiệu suất của hành động. (Pasutham, 2012) Chỉ số hiệu suất cốt yếu (KPI) biểu thị một tập hợp các chỉ số đo lường hướng vào phương diện hoạt động của tổ chức – điều đóng vai trò hết sức quan trọng vào thành công hiện tại và tương lai của tổ chức. Chỉ số hiệu suất cốt yếu cho biết tổ chức phải làm gì để tăng hiệu suất lên một cách đáng kể. (Parmenter, 2009, dẫn theo Hồ Phụng Hoàng, 2012) Chiến lƣ c là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của công ty, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.
(Chandler, 1966, dẫn theo Lê Thành Long, 2013) Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) Kaplan và Norton (1996) phát biểu: “Thẻ điểm cân bằng diễn dịch sứ mệnh và chiến lược của công ty vào các mục tiêu và thư c đo cụ thể”. Niven (2009) cho rằng: “Thẻ điểm cân bằng là tập hợp thư c đo định lượng được lựa chọn cẩn thận bắt nguồn từ chiến lược của một tổ chức. Các thư c đo được lựa chọn cho thẻ điểm đại diện cho công cụ mà các nhà lãnh đạo dùng trong việc truyền đạt t i nhân viên và cổ đông bên ngoài về kết quả và những yếu tố dẫn dắt hiệu suất mà thông qua đó, tổ chức sẽ đạt được sứ mệnh cùng các mục tiêu chiến lược của mình”. - Trang 7/92 - Theo trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 (2013): “Thẻ điểm cân bằng (BSC) là phương pháp nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, những phép đo và chỉ tiêu rõ ràng bằng việc thiết lập một hệ thống đo lường hiệu quả trong quản lý công việc.
Hệ thống này giúp định hư ng hành vi của toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong công ty - để mọi người cùng hư ng t i mục tiêu chung cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và làm cơ sở cho hệ thống quản lý và đánh giá công việc. Những phép đo của Thẻ cân bằng điểm thể hiện sự cân bằng giữa 04 phương diện: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Học hỏi và phát triển. Các phép đo được lựa chọn là công cụ dành cho người lãnh đạo truyền đạt t i người lao động và các bên liên quan những định hư ng về kết quả và hiệu quả hoạt động mà qua đó tổ chức sẽ đạt được những mục tiêu chiến lược của mình.” Bản đồ chiến lƣ c là bản mô tả bằng đồ thị trên một trang giấy về những điều tổ chức phải thực hiện tốt trong từng phương diện để thực thi thành công chiến lược của mình. (Niven, 2009) Mục tiêu hiệu suất là tuyên bố ngắn gọn mô tả những việc cụ thể phải thực hiện tốt nếu muốn thực thi chiến lược thành công.
(Niven, 2009) Thƣớc đo hiệu suất có thể được mô tả như các tiêu chuẩn (thường là định lượng nhưng không nhất thiết phải là định lượng) được sử dụng để đánh giá và truyền đạt hiệu suất so với kết quả mong đợi. (Niven, 2009) Chỉ tiêu hiệu suất có thể được định nghĩa là một đại diện định lượng của thước đo hiệu suất tại một thời điểm nào đó trong lai, hay nói cách khác là mức độ hiệu suất mong muốn trong tương lai. (Niven, 2009) Phân biệt thƣớc đo hiệu suất và thƣớc đo kết quả Theo Niven (2009), cần phân biệt sự khác nhau giữa thước đo hiệu suất và thước đo kết quả bởi việc phân biệt hai thước đo này sẽ rất cần thiết trong các nỗ lực phát triển thước đo. Một cách ngắn gọn, thước đo hiệu suất đại diện cho kết quả của các hành động được thực hiện trước đó; trong khi đó, thước đo kết quả là các thước đo dẫn hướng - hay định hướng - những kết quả đạt được trong thước đo hiệu suất.
Ví - Trang 8/92 - dụ: doanh thu, thị phần đều là các thước đo hiệu suất. Doanh thu có thể được tạo ra bởi thời gian được dành cho khách hàng; thị phần có thể bị chi phối bởi nhận thức thương hiệu. Các chỉ số như thời gian dành cho khách hàng hay nhận thức thương hiệu chính là các thước đo định hướng giúp dự báo được kết quả của những thước đo hiệu suất như doanh thu và thị phần. Sự phân biệt cụ thể được trình bày trong Bảng 2.
Thẻ điểm cân bằng nên chứa tổ hợp các thước đo kết quả và thước đo hiệu suất. Phân biệt thƣớc đo hiệu suất và thƣớc đo kết quả Thƣớc đo hiệu suất Thƣớc đo kết quả Định Các thước đo tập trung vào kết Các thước đo “định hướng” hoặc nghĩa quả khi kết thúc một khoảng thời dẫn hướng tới kết quả của thước gian. đo hiệu suất Thường biểu thị đặc điểm hiệu Thường đo lường các quy trình và suất mang tính lịch sử hoạt động trung gian Các ví Thị phần Thời gian dành cho khách hàng dụ Doanh thu Các tuyên bố được đưa ra Sự hài lòng của nhân viên Sự vắng mặt Ưu Thường dễ xác định và nắm bắt Có tính dự đoán và cho phép tổ điểm chức đưa ra sự điều chỉnh dựa trên kết quả Nhược Không phản ánh các hoạt động Có thể khó xác định và nắm bắt điểm hiện tại Thường là các thước đo mới Thiếu sức mạnh dự đoán không có tính lịch sử tại tổ chức (Nguồn: Niven, 2009) Phân biệt BSC và KPI Theo Niven (2009): Thẻ điểm cân bằng không chỉ là một công cụ truyền đạt và đo lường quy trình mà còn là một hệ thống quản lý chiến lược giúp điều chỉnh các hoạt động ngắn hạn, hạn chế các vấn đề phát sinh về thực thi chiến lược hiệu quả. Hệ thống BSC đánh giá hiệu suất doanh nghiệp thông qua 04 phương diện: Tài chính, - Trang 9/92 - Khách hàng, Quy trình nội bộ và Học hỏi phát triển, giúp doanh nghiệp phát triển cân đối và bền vững.
Còn chỉ số hiệu suất cốt yếu (KPI) được áp dụng cho các mục đích như quản lý hệ thống công việc của tổ chức, tự quản lý công việc của nhóm hoặc cá nhân. Nói một cách khác, BSC chuyển đổi tầm nhìn và chiến lược thành 04 phương diện: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ và Học hỏi phát triển. Còn KPI là công cụ đo lường những chỉ tiêu định lượng để hiện thực hóa các phương diện trên. BỐN PHƢƠNG DIỆN CỦA THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (1) Tài chính Bên cạnh những thông tin Tài chính mang tính truyền thống, Thẻ điểm cân bằng bổ sung thêm những thông tin khác như: giá trị kinh tế gia tăng, doanh thu trên nguồn vốn thuê ngoài, đánh giá rủi ro và các cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ cho hoạt động phân tích chi phí – lợi ích.
Theo Kaplan và Norton (2001): “Thẻ điểm cân bằng giữ lại khía cạnh Tài chính vì những giá trị Tài chính luôn có giá trị trong việc tóm lược những kết quả kinh tế có thể đo lường dễ dàng từ những hoạt động đã được tiến hành trư c đó. Những thư c đo hiệu quả hoạt động Tài chính cho thấy liệu chiến lược, việc triển khai và thực thi chiến lược của công ty có đóng góp vào việc cải thiện lợi nhuận hay không. Những mục tiêu Tài chính nhìn chung thường liên quan đến khả năng sinh lời, chúng được đo bằng thu nhập từ hoạt động, lợi nhuận vốn sử dụng, hay giá trị kinh tế gia tăng. Những mục tiêu Tài chính khác có thể là tốc độ tăng trưởng doanh thu hay sự phát sinh dòng tiền mặt”.
(2) Khách hàng Theo Niven (2009), những triết lý quản lý gần đây chú trọng vào tầm quan trọng của tập trung vào khách hàng và hài lòng của khách hàng trong bất kỳ ngành kinh doanh nào. Nếu khách hàng không hài lòng, họ sẽ tìm nhà cung cấp khác để đáp ứng nhu cầu của họ. Do đó, đây là tiêu chí hàng đầu.