CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM VÀ VẬN DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm - ý nghĩa – sự cần thiết Bảng cân bằng điểm 1.1 Khái niệm Bảng cân bằng điểm Bảng cân bằng điểm (Balanced Scorecard-BSC) là một tập hợp các thước đo tài chính và phi tài chính được chọn lọc theo chiến lược và sắp xếp theo những mục đích nhất định nhằm đánh giá toàn diện các hoạt động của tổ chức trên bốn khía cạnh: Tài chính, khách hàng, quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ, nhân lực. Bảng cân bằng điểm giúp các nhà quản lý có một tầm nhìn toàn diện và cân bằng hơn giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp; giữa đánh giá bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; giữa đánh giá chủ quan và khách quan về thành quả hoạt động doanh nghiệp; giữa kết quả mong muốn và kết quả đạt được của hoạt động doanh nghiệp. Sự gắn kết hài hòa trong Bảng cân bằng điểm được thể hiện qua sơ đồ tổng quát sau.1: Bốn phương diện của Bảng cân bằng điểm 123doc 4 Bảng cân bằng điểm đã manh nha xuất hiện từ những năm 1950 với sự tiên phong trong quản lý của một kỹ sư người Pháp thuộc General Electric-tác giả của Tableau de Bord, theo nghĩa đen, có thể hiểu là “Bảng thông tin của phương pháp đánh giá hiệu quả”.Về sau, nó được xây dựng hoàn chỉnh bởi Robert Kaplan-Giáo sư chuyên ngành kế toán thuộc Đại học Hardvard và David Norton-một chuyên gia tư vấn ở Boston.Norton đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 12 công ty nhằm khảo sát các phương pháp mới trong đo lường và quản lý hiệu suất. Công trình này bắt nguồn từ niềm tin ngày càng lớn rằng hệ thống các thước đo tài chính trong đo lường và quản lý hiệu suất đã không còn thích hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong thời đại công nghệ thông tin.
Nhóm nghiên cứu cho rằng sự phụ thuộc vào các thước đo tài chính đã ảnh hưởng đáng kể đến việc tạo lập, duy trì, nâng cao giá trị doanh nghiệp. Sau nhiều cuộc thảo luận, nhóm nghiên cứu đã đề xuất ra một công cụ mới - Bảng cân bằng điểm. Công cụ này đã giúp đo lường, đánh giá toàn diện thành quả hoạt động doanh nghiệp qua các thước đo về tài chính, khách hàng, quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ, nhân lực trong sự gắn kết giữa từng công việc với từng mục tiêu, chiến lược. Qua một thời gian trải nghiệm, Bảng cân bằng điểm đã thâm nhập vào nhiều doanh nghiệp, vào cả những tổ chức phi lợi nhuận và được đánh giá của tạp chí Hardvard Business Review là một trong các ý tưởng có ảnh hưởng lớn trong khoa học quản lý kinh tế.2 Ý nghĩa Bảng cân bằng điểm Là một hệ thống đo lường, đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp Bảng cân bằng điểm đã chuyển tầm nhìn, chiến lược của một doanh nghiệp thành một bản đồ chiến lược với các mục tiêu cụ thể, thể hiện qua các thước đo cụ thể trên bốn phương diện Tài chính, Khách hàng, Quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ, Nhân lực.
Qua các mục tiêu, thước đo trên bản đồ chiến lược giúp doanh nghiệp đo lường, đánh giá, nhận định thành quả hoạt động của doanh nghiệp trong từng bộ phận, toàn doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai. Là một công cụ truyền đạt thông tin của nhà quản lý 123doc 5 Bảng cân bằng điểm cung cấp một cơ cấu tổ chức, một ngôn ngữ truyền đạt sứ mệnh và chiến lược. Bản đồ chiến lược mô tả tất cả các mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt được theo chiến lược hay là đích đến cụ thể của chiến lược trên bốn khía cạnh giúp doanh nghiệp xác định những mối quan hệ nhân quả đan xen giữa bốn khía cạnh trong thực thi chiến lược. Qua việc nói rõ những kết quả mà doanh nghiệp muốn đạt được, các nhân tố thúc đẩy hoạt động để đạt được những kết quả đó tới từng nhân viên nên giúp nhân viên hiểu được mục tiêu, chiến lược doanh nghiệp cũng như vai trò của họ đối với việc đạt được mục tiêu, chiến lược doanh nghiệp.
Từ đó, nhà quản lý có thể khai thác, hướng những sức mạnh, khả năng, tiềm năng và những hiểu biết cụ thể của mọi thành viên trong doanh nghiệp vào những công việc cần làm nhằm thực thi chiến lược. Tạo nên một công cụ quản lý chiến lược hữu hiệu Bảng cân bằng điểm được sử dụng để làm rõ và cụ thể hóa tầm nhìn, chiến lược; truyền đạt và kết nối tầm nhìn, chiến lược với đặt mục tiêu, lập kế hoạch bằng các thước đo toàn diện. Nhờ việc diễn giải tầm nhìn, chiến lược bằng những mục tiêu, các thước đo toàn diện giúp nhân viên hiểu biết nhiều hơn về tầm nhìn, chiến lược của doanh nghiệp qua những mục tiêu, con số cụ thể ở các khía cạnh cần thực hiện trong kế hoạch, thực tế. Từ đó, giúp nhà quản trị cấp cao định hướng, kiểm soát và điều chỉnh kịp thời, toàn diện các nhà quản lý bộ phận cũng như toàn doanh nghiệp 1.3 Sự cần thiết của Bảng cân bằng điểm trong đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp trong môi trường hoạt động kinh doanh hiện nay Nền kinh tế thế giới đang chuyển từ cạnh tranh trong thời đại công nghiệp sang cạnh tranh trong thời đại công nghệ thông tin.
Nếu như trong thời đại công nghiệp, lợi thế cạnh tranh có được nhờ những cải tiến kỹ thuật công nghệ làm tăng năng suất lao động, sản xuất được càng nhiều sản phẩm, hiệu quả kinh tế mở rộng theo quy mô, chi phí thấp, quản lý tài chính tốt… thì trong thời đại công nghệ thông tin, khi mà cạnh tranh trong nội bộ ngành cực kỳ gay gắt, thị trường có nhiều sản phẩm 123doc 6 thay thế đồng nghĩa với người tiêu dùng có thêm nhiều quyền lựa chọn. Thông tin được truyền bá rộng rãi, nhu cầu và tầm hiểu biết của người tiêu dùng cũng tăng lên tương ứng. Khi đó, chiến lược của các doanh nghiệp phải thay đổi, lấy sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng làm mục tiêu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có sự thay đổi trong quy trình hoạt động kinh doanh, cần phải kết hợp lợi ích trong cả quy trình hoạt động kinh doanh.
Quy trình hoạt động kinh doanh là sự tích hợp các khâu sản xuất, phân phối, cung cấp bắt đầu bằng đơn đặt hàng của khách hàng; tích hợp với sự đổi mới, sáng tạo và đi trước thời đại; tích hợp với quy mô sản xuất cũng ngày càng được mở rộng, vươn ra những thị trường mới, quốc tế; tích hợp với khả năng huy động, quản lý và khai thác nguồn tài sản vô hình vào sự phát triển của doanh nghiệp để tạo lợi thế cạnh tranh, tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Từ những thay đổi của môi trường kinh doanh đó đòi hỏi hệ thống đo lường, đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp phải thay đổi. Bảng cân bằng điểm đã hình thành và góp phần vào khắc phục những hạn chế của thước đo tài chính và sự phụ thuộc gần như duy nhất vào thước đo tài chính trong đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay như : Thứ nhất, thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đo lường, đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp Báo cáo tài chính phản ánh những kết quả hoạt động trong quá khứ nhưng không phản ánh được giá trị tài sản vô hình thuộc về trí tuệ của doanh nghiệp, trong khi những tài sản này lại ảnh hưởng đến sự thành công của tổ chức trong môi trường cạnh tranh ngày nay. Những tài sản vô hình thuộc về trí tuệ của doanh nghiệp đó là các kỹ năng, năng lực và động cơ làm việc của nhân viên, các mối quan hệ với khách hàng, các sản phẩm, dịch vụ mới, chất lượng cao luôn sẵn sàng cung cấp…Để đo lường những tài sản vô hình này thường dùng các thước đo phi tài chính.
Tuy nhiên, những tài sản này chưa được phản ánh trên Báo cáo tài chính. Chúng ta không thể nhìn vào các kết quả tài chính trong quá khứ để có thể dự báo được thành công trong tương lai của một tổ chức mà phải qua thước đo phi tài chính như sự hài lòng của khách hàng, định hướng thị phần tương lai, …để từ đó dự đoán 123doc 7 được doanh thu, lợi nhuận, cũng như sự thành công của doanh nghiệp. Các thước đo tài chính thường được sử dụng để đo lường, đánh giá thành quả của các nhà quản lý cấp cao mà không thể sử dụng để đo lường, đánh giá thành quả hoạt động của nhân viên cấp thấp hơn. Ví dụ, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) thường được dùng để làm căn cứ khen thưởng cho các bộ phận quản lý chung, các nhà quản lý cấp cao, thế nhưng, những nỗ lực của từng nhân viên cấp dưới - nguồn gốc của những kết quả đó lại không được phản ảnh, đo lường, đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính đó.
Thứ hai, thước đo tài chính truyền thống thường dẫn đến quá chú trọng vào lợi ích ngắn hạn và bỏ qua hay hy sinh lợi ích trong dài hạn Nếu chỉ chú trọng vào khía cạnh tài chính, ví dụ như chú trọng vào tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) trong đo lường, đánh giá thành quả hoạt động, các nhà quản lý thường rất chú trọng vào các giải pháp tăng doanh thu, cắt giảm chi phí, tăng số vòng quay của tài sản. Cắt giảm chi phí, giảm tài sản là những giải pháp thuận lợi nhất, thuộc quyền quyết định chủ quan của doanh nghiệp. Sự cắt giảm chi phí, giảm tài sản thường gắn liền với giải pháp thu hẹp quy mô hoạt động, giảm chi phí nhân công, sa thải nhân viên, giảm chi phí đào tạo, chi phí marketing…. Chính những giải pháp này sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sự thành công, phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.