Chương 1 tác giả đưa ra lý do lựa chọn đề tài này, mục tiêu nghiên cứu nhằm xem xét, phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023. Đồng thời, tác giả cũng trình bày về phạm vi nghiên cứu, đối tượng và các phương pháp được tác giả sử dụng để trả lời cho các câu hỏi được tác giả đặt ra. Cuối cùng là cung cấp kết cấu khóa luận và nội dung chính của mỗi chương. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước trong và ngoài nước về sự tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM , qua đó sẽ thảo luận kết quả của một số nghiên cứu trước để xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài với trường hợp các NHTM Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng 2. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng Trong ngữ cảnh của ngân hàng và tài chính, khái niệm đa dạng hóa thu nhập là việc một ngân hàng mở rộng và phát triển nhiều nguồn thu nhập, triển khai các dịch vụ tài chính khác nhau. Bằng cách này, ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cường lợi nhuận thông qua việc tận dụng các cơ hội kinh doanh mới. Đa dạng hóa thu nhập là một chiến lược quan trọng giúp ngân hàng giảm thiểu tác động tiêu cực của biến động trong một hoặc vài lĩnh vực kinh doanh.
Ngân hàng có thể cung cấp nhiều dịch vụ như cho vay, tiết kiệm, tài chính doanh nghiệp, quản lý tài chính cá nhân, đầu tư và các dịch vụ thanh toán. Việc này mang lại nguồn thu nhập từ nhiều nguồn khách hàng và hoạt động. Việc mở rộng các hoạt động tín dụng như cho vay cá nhân, cho vay doanh nghiệp, cho vay bất động sản và cho vay siêu thị sẽ giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập của ngân hàng. Bên cạnh thu nhập từ lãi suất và tín dụng, ngân hàng cũng có thể thu phí từ các dịch vụ của họ như phí thẻ tín dụng, phí giao dịch, và các dịch vụ ngoại tệ.
Hiện nay có rất nhiều bài nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng, do đó có không ít các khái niệm về đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng được đưa ra, chẳng hạn: Đa dạng hóa trong ngân hàng chia làm ba khía cạnh: (1) là đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ tài chính, (2) là đa dạng hóa địa lý, (3) là kết hợp đa dạng hóa địa lý và kinh doanh. (Mercieca và cộng sự 2007) Theo Rose và Hudgins (2006) đa dạng hóa thu nhập tại các ngân hàng là mở rộng phong phú các sản phẩm tài chính và dịch vụ của ngân nhằm gia tăng tỷ lệ thu 9 nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập. Nguồn thu nhập của ngân hàng được gọi là tập trung khi thu được duy nhất từ thu nhập lãi ròng, nhưng nếu nguồn thu nhập này có được từ thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi thì được gọi là đa dạng hóa. “Các NHTM thường đa dạng hóa thu nhập bằng.cách chuyển từ các hoạt động sinh lời truyền thống như tiền gửi, cho vay sang hoạt động thu phí.
Sau đó, dựa trên thu nhập từ phí ổn định, các NH tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phi truyền thống khác như hoạt động đầu tư nhằm tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu.nhập hoạt động”(Elsas và cộng sự, 2010). “Đa dạng hóa là một chiến lược đầu tư được thiết kế để giảm thiểu rủi ro bằng cách kết hợp các khoản đầu tư khác nhau. Sự kết hợp này tạo ra một danh mục đầu tư đa hướng và không có khả năng tất cả các khoản đầu tư đều theo cùng một hướng”(Sanya và Wolfe, 2011). Tùy thuộc vào từng chiến lược kinh doanh của ngân hàng, họ có thể tùy chọn nhiều phương pháp đa dạng hóa.
Quyết định này nhằm mục đích tối ưu hóa doanh thu, tối thiểu chi phí, tăng tối đa lợi nhuận, mở rộng tầm nhìn khách hàng, và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của NH. Do đó, đa dạng hóa thu nhập được xem là chỉ số quan trọng nhất để phản ánh kết quả của các chiến lược đa dạng hóa, hơn là làm một phần của quá trình hoạt động của ngân hàng. Phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập Nghiên cứu của tác giả Asif và Akhter (2019) đã thực hiện lược khảo và đưa ra thống kê rằng đa dạng hóa doanh thu ngành ngân hàng được ước tính rộng rãi nhất bằng Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (44%), tiếp theo là Chỉ số Herfindahl - Hirschman (29%). Ngoài ra, cũng có nhiều các nghiên cứu sử dụng các thành phần của thu nhập ngoài lãi cùng với tỷ lệ thu nhập ngoài lãi.
Điều này cùng kết quả với nghiên cứu của Brahmana và cộng sự (2018), khi bài nghiên cứu của họ chủ yếu sử dụng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số HHI để đo lường biến đa dạng hóa thu nhập. Tóm lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số Herfindahl Hirschman (HHI) được sử dụng chủ yếu trong việc đo lường đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng. 10 ❖ Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi là hai loại thu nhập chính của ngân hàng (Gurbuz và cộng sự 2013). Theo nghị định 93/2017/NĐ-CP (Chính phủ, 2017) và thông tư 16/2018/TT- BTC (Bộ Tài Chính, 2018): “Thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự, thu nhập từ hoạt động dịch vụ, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (trừ cổ phiếu), thu từ hoạt động góp vốn, chuyển.nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác.
Trong đó, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự là các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lãi từ nghiệp vụ mua.bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng.nhập từ hoạt động dịch vụ là các hoạt động thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, hoạt động dịch vụ khác. Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng là thu từ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, thu lãi chênh lệch tỷ giá, thu từ công cụ tài chính phái sinh tiền tệ.ngoài lãi bao gồm thu nhập từ hoạt.động dịch vụ; thu.từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác”. Theo các bài nghiên cứu trước, Lepetit và cộng sự (2008), Gurbuz và cộng sự (2013) các nghiên cứu về thu nhập của ngân hàng được tính trên cơ sở thuần vì trên BCTC của ngân hàng, các hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối được trình bày trên cơ sở thuần. Cụ thể, tổng thu nhập thuần bằng tổng thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi thuần.
Trong đó, thu nhập lãi thuần là phần chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, còn thu nhập ngoài lãi thuần là phần chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi và chi phí ngoài lãi. Công thức được viết là: • Thu.nhập lãi thuần = Thu.phí lãi • Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi 11 = Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư + Thu nhập thuần khác • Tổng thu nhập thuần = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi “Trên BCTC của NHTM Việt Nam, tổng thu nhập thuần của ngân hàng bao gồm thêm các mục khác. Do đó, thu nhập.ngoài lãi thuần của các NHTM Việt Nam trong bài nghiên cứu này được tính như sau: • Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập.thuần từ hoạt động dịch vụ + Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + Thu nhập.thuần từ hoạt động khác + Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần Ngoài ra, để đo lường đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng, các nghiên cứu liên quan như Stiroh (2004), Lepetit và cộng sự (2008), Lee và cộng sự (2014), Batten và Vo (2016), Moudud-UlHud (2018) sử dụng tỷ lệ.thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng. Vì vậy tác giả cũng sử dụng công thức này trong bài để đo lường đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng.
Tỷ lệ này được tính như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 NON = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 ➢ Giả thiết rằng giá trị của NON càng cao thì.đa dạng hóa thu nhập càng cao. Các khoản thu nhập thuần đều dương thì tỷ lệ NON có giá trị từ 0 đến 1. ❖ Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman Chỉ số Herfindahl.Hirschman được sử dụng để đo lường mức độ tập trung các nguồn thu nhập của ngân hàng, cụ thể là đo lường sự thay đổi giữa thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Theo nghiên cứu của Sanya và Wolfe (2011), Gurbuz và cộng sự (2013), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), Trần Thị Cẩm Thanh (2021) và Nguyễn Thu Trang (2022) chỉ số đa dạng hóa.thu nhập được tính toán như sau: • HHI = (INT² + NON²) 𝑁𝐸𝑇 • INT = : Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần 𝑁𝐸𝑇𝑂𝑃 𝑁𝐼𝐼 • NON = ∶ Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập tuần 𝑁𝐸𝑇𝑂𝑃 12 ➢ Giả thiết HHI càng cao”nghĩa là các ngân hàng có sự tập trung lợi nhuận đồng nghĩa đa dạng hóa thu nhập càng ở mức thấp.
Các khoản thu nhập thuần đều dương thì HHI có giá trị từ 0. Khi HHI có giá trị bằng 0.5 nghĩa là đa dạng hóa hoàn toàn mà tại đó đem lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng, khi HHI bằng 1 nghĩa là mức thấp nhất của đa dạng hóa thu nhập.” Mức độ đa dạng hóa thu nhập được xác định thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman như sau (Stiroh và Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008)): DIV= 1 - HHI = 1- (INT² + NON²) Từ công thức này, tác giả có thể đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập (DIV) dễ dàng hơn. Khi chỉ số DIV càng cao thì đa dạng hóa thu nhập có ý nghĩa cao. Giá trị của HHI là từ 0.