Tổng quan luận án

Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch trong việc dẫn vốn cho nền kinh tế, song luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể dẫn đến nguy cơ đổ vỡ mang tính hệ thống (Mishkin, 1999). Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, hệ thống NHTM mở rộng mạnh mẽ về quy mô tài sản (ước đạt 7,5 triệu tỷ đồng vào năm 2022) và gia tăng số lượng thành viên, kéo theo sự cạnh tranh gay gắt và mức độ rủi ro ngày càng cao. Khi người gửi tiền đối mặt với nguy cơ rủi ro từ ngân hàng, họ có thể phản ứng bằng cách yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc rút tiền gửi ồ ạt, như trường hợp khủng hoảng thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) vào tháng 10 năm 2022. Cơ chế giám sát từ phía thị trường này được gọi là kỷ luật thị trường (KLTT) – một trong ba trụ cột an toàn của Hiệp ước Vốn Basel II bên cạnh yêu cầu vốn tối thiểu và quy trình giám sát chính thức.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: trong khi các tài liệu quốc tế đã phân tích tác động của KLTT đến chấp nhận rủi ro (CNRR) và hiệu quả tài chính (HQTC), thì tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ kiểm định tác động của CNRR đến KLTT hoặc đánh giá thực trạng ở mức sơ khởi. Chưa có công trình nào trong và ngoài nước đánh giá toàn diện, có hệ thống về tác động của KLTT đến CNRR, tác động của KLTT đến HQTC, cũng như tác động của biến tương tác giữa KLTT và CNRR đến HQTC của các NHTM Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu chung của luận án là xác định bằng chứng thực nghiệm về tác động của KLTT đến CNRR và HQTC, đồng thời kiểm tra sự thay đổi của CNRR có ảnh hưởng đến tác động của KLTT lên HQTC của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2022; từ đó đề xuất các hàm ý chính sách và hàm ý quản trị. Bốn mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Nghiên cứu tác động của KLTT đến chấp nhận rủi ro của các NHTM Việt Nam.
  2. Nghiên cứu tác động của KLTT đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam.
  3. Nghiên cứu sự thay đổi của chấp nhận rủi ro có ảnh hưởng đến sự tác động của KLTT đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam hay không.
  4. Đề xuất các gợi ý chính sách đối với cơ quan quản lý nhà nước và gợi ý quản trị đối với các NHTM Việt Nam nhằm nâng cao hiệu ứng kỷ luật thị trường.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Tác động của KLTT đến chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Tác động của KLTT đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Sự thay đổi của chấp nhận rủi ro có ảnh hưởng đến sự tác động của KLTT đến HQTC NHTM hay không? Và ảnh hưởng như thế nào?
  • Câu hỏi 4: Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà quản trị NHTM và NHNN đưa ra các giải pháp hoặc chính sách gì để gia tăng mức độ an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các NHTM Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Kỷ luật thị trường, chấp nhận rủi ro, hiệu quả tài chính, biến tương tác giữa KLTT và CNRR, cùng các yếu tố đặc thù ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô liên quan.
  • Phạm vi không gian: 30 NHTM tại Việt Nam (chiếm hơn 90% tổng tài sản toàn ngành), không bao gồm các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 15 năm, từ năm 2008 đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:

Mối quan hệ giữa chấp nhận rủi ro và hiệu quả ngân hàng

Lý thuyết danh mục của Markowitz (1959) giải thích mối quan hệ đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng. Các nghiên cứu thực nghiệm của Boyd và De Nicolo (2005), Laeven và Levine (2009), Wagner (2010), Agoraki và cộng sự (2011), Hughes và Mester (2010), Anginer và cộng sự (2013) đều chỉ ra rằng ngân hàng có hiệu quả hoạt động cao thường có xu hướng chấp nhận nhiều rủi ro hơn. Aebi và cộng sự (2012) nhận thấy mục tiêu tối đa hóa lợi ích cổ đông gây áp lực khiến ngân hàng gia tăng rủi ro. Xét theo từng khía cạnh rủi ro cụ thể:

  • CNRR vốn đầu tư (CAPRISK): Các công trình của Kosmidou và cộng sự (2008), Hou và cộng sự (2014), Garcia và Guerreiro (2015), Petria và cộng sự (2015), Sarmiento và Galán (2017), Menicucci và Paolucci (2016) khẳng định tỷ lệ an toàn vốn và mức độ chấp nhận rủi ro vốn tác động tích cực đáng kể đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng.
  • CNRR tín dụng (CREDRISK): Các nghiên cứu của Boahene và cộng sự (2012), Poudel (2012), Phạm Hữu Hồng Thái (2013), Abiola và Olausi (2014), Alshatti (2015), Saeed và cộng sự (2016) tìm thấy tác động cùng chiều giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời. Ngược lại, Athanasoglou và cộng sự (2006), Serwadada (2018) và Adelopo và cộng sự (2018) lại ghi nhận rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến hiệu quả tài chính.
  • CNRR thanh khoản (LIQRISK): Alzorquan (2014) và Đàng Quang Vắng và cộng sự (2017) ghi nhận rủi ro thanh khoản và tỷ lệ nợ xấu tác động tiêu cực đến ROE; trong khi Trần Huy Hoàng và cộng sự (2021) tại Việt Nam giai đoạn 2010–2020 chỉ ra rủi ro thanh khoản tác động cùng chiều với ROA và ROE.

Mối quan hệ giữa kỷ luật thị trường và chấp nhận rủi ro

Sự tồn tại của KLTT được minh chứng qua phản ứng của người gửi tiền và nhà đầu tư nợ khi ngân hàng thay đổi mức độ rủi ro (Ellis và Flannery, 1992; Flannery, 1998; Martínez và Schmukler, 1998; Martinez-Peria và Schmukler, 2001; Goldberg và Hudgins, 2002; Ghosh và Das, 2003; Sironi, 2003; Demirguc-Kunt và Huizinga, 2004; Gropp và Vesala, 2004; Hosono, Lwake và Tsuru, 2004; Spiegel và Yamori (2007); Fueda và Konishi (2007); Uchida và Satake, 2009). Về tác động của KLTT đến hành vi mạo hiểm, Furfine (2001), Blum (2002), Nier và Baumann (2006), Hoang và cộng sự (2014) kết luận KLTT tạo áp lực buộc ngân hàng giảm mức độ chấp nhận rủi ro, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính. Tác động này còn chịu sự điều tiết của bảo hiểm tiền gửi (Pecchenino, 1992; Mishkin, 2001; Cubillas, 2012) và trạng thái niêm yết cổ phiếu (Lepetit và Tarazi, 2011; Barry và cộng sự, 2011; Tran và cộng sự, 2018). Ngoài ra, các yếu tố quy mô (Demsetz và Strahan, 1997; Konishi và Yasuda, 2004; Haq và Heaney, 2012), sở hữu nhà nước (Acharya và cộng sự, 2016; Nguyen, 2017), chi phí hoạt động (Kwan và Eisenbeis, 1997; Fiordelisi và cộng sự, 2011), đa dạng hóa thu nhập (Baele và cộng sự, 2007; Srairi, 2013), cùng lạm phát và tăng trưởng kinh tế (García và cộng sự, 2009; Festić và cộng sự, 2011; Hadad và cộng sự, 2011) cũng tác động đáng kể đến CNRR.

Tác động của kỷ luật thị trường đến hiệu quả ngân hàng

Ghosh và Das (2003), McKinley và Banaian (2005), Uchida và Satake (2009) nhận định KLTT thúc đẩy các ngân hàng kém hiệu quả phải tái cấu trúc hoặc rời bỏ thị trường, giúp gia tăng hiệu quả tổng thể. Ngược lại, Nakaso và cộng sự (2000) và Berger và cộng sự (2000) chỉ ra hạn chế của KLTT khi hạ tầng thông tin kế toán chưa minh bạch. Việc niêm yết chứng khoán giúp ngân hàng giảm chi phí huy động vốn và cải thiện hiệu quả tài chính (Luo và cộng sự, 2011). Các yếu tố quy mô (Zhou và Wong, 2008), sở hữu nhà nước (Nutt, 2000; Ariff và Can, 2008), chi phí hoạt động (Fiordelisi và cộng sự, 2011), đa dạng hóa thu nhập (Stein, 1997; Villalonga, 2004; Elsas và cộng sự, 2010; Srairi, 2013), GDP và lạm phát (Bourke, 1989; Boyd và cộng sự, 2001; Fries và Taci, 2005; Grigorian và Manole, 2006) cũng can thiệp vào hiệu quả tài chính ngân hàng.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Huỳnh Thế Du và cộng sự (2005), Nguyễn Chí Đức và cộng sự (2012, 2017), Phan Diên Vỹ và cộng sự (2014), Trần Việt Dũng (2022) chủ yếu đánh giá tính khả thi, tác động của bảo hiểm tiền gửi hoặc tác động ngược của rủi ro đến KLTT. Chưa có công trình nào kết hợp kiểm định tác động đồng thời của KLTT đến cả CNRR và HQTC, cũng như chưa kiểm chứng sự thay đổi của CNRR đóng vai trò điều tiết như thế nào đối với mối quan hệ giữa KLTT và HQTC trong hệ thống NHTM Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết kinh tế thị trường và bàn tay vô hình: Adam Smith (1976) lập luận cơ chế giá cả và lãi suất do quy luật cung - cầu thị trường quyết định. Khi người gửi tiền nhận diện rủi ro ngân hàng tăng, họ yêu cầu mức bù đắp lãi suất cao hơn hoặc chuyển dịch dòng tiền sang tổ chức an toàn hơn.
  • Khái niệm kỷ luật thị trường: Berger (1991) định nghĩa KLTT là tình huống người gửi tiền trừng phạt các ngân hàng rủi ro cao bằng cách yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc rút tiền gửi. KLTT tồn tại dưới hai hình thức: kỷ luật trực tiếp (áp lực đòi hỏi lãi suất, rút vốn từ nhà đầu tư và người gửi tiền không được bảo hiểm) và kỷ luật gián tiếp (áp lực từ cơ quan xếp hạng tín nhiệm, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp; Kwast và cộng sự, 1999; Cục Dự trữ Liên bang, 2000). Trụ cột 3 của Basel II thiết lập các chuẩn mực bắt buộc về tính minh bạch, tần suất và tính trọng yếu của công bố thông tin.
  • Lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết tín hiệu: George Akerlof và cộng sự (1970) chỉ ra sự bất cân xứng thông tin giữa ngân hàng và khách hàng. Để khắc phục điều này, lý thuyết tín hiệu của Spence (1973) giải thích cách thị trường dựa vào các tín hiệu quan sát được (giá cổ phiếu, trích lập dự phòng rủi ro, chính sách lãi suất) để đánh giá sức khỏe ngân hàng.
  • Lý thuyết về rủi ro và chấp nhận rủi ro: Khái niệm rủi ro của Frank Knight (1962), Willet (1963), Rose (1987), Allais (1953), Vlek và Stallen (1980), Fiegenbaum và Thomas (1988), Nguyễn Kim Anh (2010). Mức độ và hành vi CNRR được phân tích qua các nghiên cứu của Markowitz (1959), Sanders và Hambrick (2007), Palmer và Wiseman (1999), March và Shapira (1987), Yates (1992), Turner và cộng sự (2004), Kwan và cộng sự (1995), Rachdi và Ameur (2011). Luận án chia CNRR thành 3 nhóm: CNRR vốn đầu tư (CAPRISK), CNRR tín dụng (CREDRISK) và CNRR thanh khoản (LIQRISK).
  • Lý thuyết về hiệu quả ngân hàng: Các tiếp cận của Berger và Mester (1997), Coelli và cộng sự (2003, 2005), Trương Quang Thông (2012), Nguyễn Năng Phúc (2013), Koopmans (1951, 1957), Farrell (1957), Leibenstein (1966), Yudistira (2004), Iršová (2009). Luận án tập trung vào hiệu quả tài chính (HQTC) được đo lường qua ba chỉ tiêu: ROA, ROE và NIM.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Dữ liệu nghiên cứu: Bộ dữ liệu bảng không cân bằng của 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2022 (15 năm). Số liệu vi mô thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán; số liệu kinh tế vĩ mô thu thập từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổng cục Thống kê Việt Nam.
Phân loại ngân hàng Số lượng Tỷ lệ (%)
NHTM Cổ phần niêm yết (HOSE hoặc HNX) 19 63%
NHTM Cổ phần chưa niêm yết 11 37%
Tổng số mẫu nghiên cứu 30 100%
  • Mô hình kinh tế lượng:
    • Mô hình 1: Đánh giá tác động của KLTT đến mức độ CNRR (CAPRISK, CREDRISK, LIQRISK).
    • Mô hình 2: Đánh giá tác động của KLTT đến HQTC (ROA, ROE, NIM).
    • Mô hình 3: Đánh giá tác động tương tác giữa KLTT và CNRR lên HQTC:
      • Mô hình 3.1: Xét biến tương tác với CNRR vốn đầu tư ($KLTT \times CAPRISK$).
      • Mô hình 3.2: Xét biến tương tác với CNRR tín dụng ($KLTT \times CREDRISK$).
      • Mô hình 3.3: Xét biến tương tác với CNRR thanh khoản ($KLTT \times LIQRISK$).
  • Kỹ thuật và công cụ ước lượng: Sử dụng phần mềm Stata và Excel; thực hiện hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Để khắc phục các khuyết tật về tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và biến nội sinh, tác giả sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) và phương pháp tổng quát thời điểm (GMM). Kiểm định đa cộng tuyến được thực hiện qua ma trận tương quan và hệ số phóng đại phương sai (VIF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 thiết lập nền tảng khoa học cho đề tài thông qua việc phân tích bối cảnh hội nhập sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007. Chương này nêu rõ tính cấp thiết của cơ chế giám sát thị trường tại các NHTM, xây dựng 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu tương ứng, xác định rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu 30 NHTM giai đoạn 2008–2022, phương pháp nghiên cứu định lượng, cùng các điểm mới và kết cấu 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết khung lý luận về:

  1. Kỷ luật thị trường: Khái niệm, 2 hình thức (trực tiếp, gián tiếp), 3 giai đoạn lịch sử phát triển (trước 1929, 1933–1990, sau 1990 đến nay), 4 đặc điểm cốt lõi và vai trò trong hệ thống giám sát.
  2. Rủi ro và chấp nhận rủi ro: Khái niệm rủi ro, phân loại rủi ro theo Basel II (rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường) và theo Khan và cộng sự (2017), cùng cơ sở lý thuyết về mức độ và hành vi CNRR.
  3. Hiệu quả ngân hàng: Khái niệm, phân loại hiệu quả tài chính và hiệu quả kỹ thuật.
  4. Lược khảo nghiên cứu trước: Phân tích hệ thống các công trình quốc tế và trong nước về quan hệ giữa KLTT, CNRR và HQTC, từ đó xác định khe hở nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu thực nghiệm:

  1. Dữ liệu: Thống kê mẫu 30 NHTM (19 ngân hàng niêm yết trên sàn HOSE/HNX và 11 ngân hàng chưa niêm yết).
  2. Phương pháp đo lường các biến: Biến KLTT, các biến đại diện CNRR (CAPRISK, CREDRISK, LIQRISK), các biến đại diện HQTC (ROA, ROE, NIM), cùng các biến kiểm soát (Quy mô ngân hàng, Sở hữu nhà nước, Chi phí hoạt động, Đa dạng hóa thu nhập, Tăng trưởng GDP, Lạm phát INF).
  3. Xây dựng giả thiết và thiết lập 3 mô hình kinh tế lượng:
    • Mô hình (1): $CNRR = f(KLTT, Control_Variables)$
    • Mô hình (2): $HQTC = f(KLTT, Control_Variables)$
    • Mô hình (3): $HQTC = f(KLTT, CNRR, KLTT \times CNRR, Control_Variables)$ (chia thành 3 nhánh 3.1, 3.2, 3.3).
  4. Quy trình ước lượng: Kiểm định đa cộng tuyến (VIF), kiểm định lựa chọn mô hình (F-test, Breusch-Pagan, Hausman), xử lý khuyết tật mô hình bằng ước lượng GLS và GMM.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp bức tranh thực nghiệm giai đoạn 2008–2022:

  1. Phân tích thực trạng: Diễn biến phát hành chứng chỉ tiền gửi, biến động tiền gửi trên tổng tài sản, thực trạng các loại CNRR (tín dụng, vốn đầu tư, thanh khoản) và diễn biến HQTC của 30 NHTM qua 15 năm.
  2. Thống kê mô tả và kiểm định đa cộng tuyến: Trình bày thống kê mô tả, ma trận tương quan và hệ số VIF cho từng mô hình nghiên cứu.
  3. Kết quả kiểm định và hồi quy:
    • Kết quả Mô hình 1: KLTT có tác động làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM Việt Nam.
    • Kết quả Mô hình 2: KLTT có tác động cùng chiều làm tăng hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam.
    • Kết quả Mô hình 3 (3.1, 3.2, 3.3): Yếu tố CNRR tác động cùng chiều với HQTC; sự thay đổi của CNRR (vốn đầu tư, tín dụng, thanh khoản) có ảnh hưởng điều tiết đến mức độ tác động của KLTT lên HQTC.
    • Tác động của các biến kiểm soát: Quy mô ngân hàng, sở hữu nhà nước, chi phí hoạt động, đa dạng hóa thu nhập, lạm phát và tăng trưởng GDP đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến CNRR và HQTC.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Dựa trên kết quả thực nghiệm của Chương 4, chương này tổng hợp các kết luận chính và đưa ra các đề xuất cụ thể:

  1. Hàm ý chính sách đối với Ngân hàng Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý về công bố thông tin theo chuẩn mực Basel II và Basel III, nâng cao vai trò giám sát thị trường, chuẩn hóa hệ thống xếp hạng tín nhiệm độc lập.
  2. Hàm ý quản trị đối với các NHTM: Nâng cao tính minh bạch thông tin, chủ động tối ưu hóa cơ cấu vốn và quản trị rủi ro thanh khoản, kiểm soát chi phí hoạt động và đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn thu.
  3. Chỉ rõ các hạn chế của đề tài và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Hoàn thiện và mở rộng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa kỷ luật thị trường, mức độ chấp nhận rủi ro và hiệu quả tài chính ngân hàng tại một thị trường mới nổi như Việt Nam.
  • Bổ sung vào khoảng trống học thuật quốc tế và trong nước bằng việc kiểm định vai trò điều tiết của sự thay đổi mức độ chấp nhận rủi ro (vốn đầu tư, tín dụng, thanh khoản) đối với tác động của kỷ luật thị trường lên hiệu quả tài chính ngân hàng thông qua biến tương tác.
  • Cung cấp một lược khảo toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến KLTT và quản trị rủi ro ngân hàng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xác nhận bằng chứng thực nghiệm cho thấy cơ chế kỷ luật thị trường có tồn tại tại hệ thống NHTM Việt Nam: người gửi tiền có phản ứng với mức độ rủi ro của ngân hàng, và áp lực KLTT buộc các ngân hàng phải chủ động giảm mức độ chấp nhận rủi ro để duy trì lợi thế huy động vốn.
  • Khẳng định KLTT có tác động thúc đẩy và làm gia tăng hiệu quả tài chính (HQTC) của các NHTM Việt Nam.
  • Xác nhận CNRR có tác động cùng chiều với HQTC, đồng thời sự thay đổi của CNRR tạo ra sự thay đổi trong mức độ tác động của KLTT lên HQTC của các NHTM.
  • Làm sáng tỏ vai trò của các biến đặc thù (quy mô, sở hữu nhà nước, chi phí hoạt động, đa dạng hóa thu nhập) và biến vĩ mô (lạm phát, tăng trưởng GDP) đối với việc hoạch định chính sách an toàn hệ thống.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Ngân hàng Nhà nước: Tăng cường cơ chế giám sát gián tiếp qua việc buộc các NHTM thực hiện công bố thông tin minh bạch, đúng tần suất và trọng yếu; thúc đẩy phát triển thị trường xếp hạng tín nhiệm độc lập; hoàn thiện lộ trình áp dụng toàn diện Basel II và Basel III.
  • Đối với các Ngân hàng Thương mại: Chủ động công khai, minh bạch hóa báo cáo tài chính và tình hình hoạt động kinh doanh để tạo niềm tin cho người gửi tiền; thiết lập mức độ chấp nhận rủi ro phù hợp với khẩu vị rủi ro và năng lực quản trị; quản lý chi phí hoạt động và mở rộng các dịch vụ thu phí ngoài lãi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu nghiên cứu: Luận án chỉ giới hạn khảo sát 30 NHTM cổ phần tại Việt Nam, chưa bao gồm các tổ chức tín dụng khác như NHTM có vốn đầu tư nước ngoài, NHTM liên doanh, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
  • Hạn chế về dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2008 – 2022. Trong bối cảnh kinh tế số và sự phát triển của công nghệ tài chính sau năm 2022, các kênh thông tin phi truyền thống có thể tác động đa chiều hơn đến KLTT mà bộ dữ liệu chưa bao quát hết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi mẫu sang các định chế tài chính phi ngân hàng, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; cập nhật chuỗi thời gian nghiên cứu giai đoạn sau năm 2022; bổ sung thêm các chỉ tiêu đo lường phi tài chính của KLTT và tác động của truyền thông số/mạng xã hội đến hành vi người gửi tiền.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về KLTT, kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM, GLS, GMM) và quy trình thiết lập các mô hình hồi quy có biến tương tác để kiểm định tác động điều tiết.
  • Đối với giảng viên và các nhà nghiên cứu: Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống về bức tranh tài chính ngân hàng Việt Nam xuyên suốt 15 năm (2008–2022) từ giai đoạn hậu gia nhập WTO, khủng hoảng nợ xấu đến giai đoạn áp dụng thí điểm và bắt buộc Basel II.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước: Là cơ sở thực nghiệm để xây dựng, hoàn thiện chính sách giám sát theo Trụ cột 3 của Basel II, điều tiết chính sách bảo hiểm tiền gửi và quy chuẩn hóa hoạt động công bố thông tin.
  • Đối với ban điều hành và hội đồng quản trị các NHTM: Giúp các nhà quản trị nhận thức rõ vai trò giám sát của thị trường, từ đó cân đối hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận và giới hạn chấp nhận rủi ro vốn, tín dụng và thanh khoản.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng nào để xử lý các khuyết tật của mô hình dữ liệu bảng?

Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), kết hợp phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) và phương pháp tổng quát thời điểm (GMM) trên phần mềm Stata để xử lý các vấn đề tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và hiện tượng nội sinh của các biến nghiên cứu.

2. Mẫu nghiên cứu của luận án bao gồm những ngân hàng nào và chiếm bao nhiêu phần trăm quy mô toàn ngành?

Mẫu nghiên cứu gồm 30 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008–2022, chiếm hơn 90% thị phần xét theo tổng tài sản toàn hệ thống. Trong đó có 19 NHTM cổ phần đã niêm yết trên sàn HOSE hoặc HNX (chiếm 63%) và 11 NHTM cổ phần chưa niêm yết (chiếm 37%). Mẫu không bao gồm các ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã.

3. Kỷ luật thị trường tác động như thế nào đến mức độ chấp nhận rủi ro và hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam?

Kết quả hồi quy thực nghiệm cho thấy kỷ luật thị trường có tác động làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro (giúp ngân hàng hoạt động an toàn, thận trọng hơn) và đồng thời có tác động cùng chiều làm tăng hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

4. Luận án phân chia mức độ chấp nhận rủi ro và hiệu quả tài chính thành những chỉ tiêu cụ thể nào?

Mức độ chấp nhận rủi ro (CNRR) được chia thành ba nhóm: CNRR vốn đầu tư (CAPRISK), CNRR tín dụng (CREDRISK) và CNRR thanh toán/thanh khoản (LIQRISK). Hiệu quả tài chính (HQTC) được đo lường thông qua ba chỉ tiêu định lượng: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và biên lãi ròng (NIM).

5. Điểm mới nổi bật của luận án so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới là gì?

Điểm mới của luận án là đã chứng minh thực nghiệm tác động của KLTT đến cả CNRR và HQTC tại Việt Nam; đặc biệt là việc làm rõ sự thay đổi của CNRR (vốn đầu tư, tín dụng, thanh khoản) có ảnh hưởng điều tiết đến mối quan hệ tác động từ KLTT lên HQTC của các NHTM Việt Nam.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Bùi Thị Kim Hạnh đã giải quyết một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề tác động của kỷ luật thị trường đến chấp nhận rủi ro và hiệu quả tài chính của 30 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2022. Bằng các mô hình kinh tế lượng vững chắc (GLS, GMM), công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định kỷ luật thị trường giúp kiềm chế hành vi chấp nhận rủi ro quá mức và nâng cao hiệu quả tài chính của hệ thống ngân hàng. Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu khoa học có giá trị cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoạch định chính sách của Ngân hàng Nhà nước và công tác quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.