Tổng quan luận án

Vấn đề quản trị công ty trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng nhận được sự quan tâm sâu sắc sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007–2009, khởi nguồn từ các tổ chức tài chính tại Mỹ (như Lehman Brothers, IndyMac) và Anh (như Northern Rock, Bradford và Bingley, Alliance và Leicester, HBOS, Royal Bank of Scotland). Hoạt động ngân hàng thương mại có tính chất đặc thù: tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp phi tài chính, tài sản có độ mờ và tính phức tạp cao dẫn đến bất đối xứng thông tin lớn. Thêm vào đó, các bên liên quan của ngân hàng không chỉ gồm cổ đông mà còn có người gửi tiền và cơ quan quản lý nhà nước.

Tại Việt Nam, từ năm 2011, các ngân hàng thương mại trong nước phải cạnh tranh bình đẳng với các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm quốc tế. Hệ thống ngân hàng đồng thời bước vào giai đoạn tái cơ cấu toàn diện theo các Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011–2015 và 2016–2020 của Chính phủ. Sự xuất hiện của các biến cố và sai phạm nghiêm trọng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) Á Châu năm 2012, cũng như tại các ngân hàng NHTMCP Đại Dương, NHTMCP Xây Dựng, NHTMCP Dầu Khí Toàn Cầu và NHTMCP Đông Á, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế quản trị công ty nhằm kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả tài chính.

Trước bối cảnh đó, tác giả thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài: “Tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của các NHTM ở Việt Nam”.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, từ đó thảo luận các hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát rủi ro và cải thiện hiệu quả tài chính. Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:

  • Mục tiêu 1: Kiểm định tác động của quản trị công ty đến rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
  • Mục tiêu 2: Kiểm định tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
  • Mục tiêu 3: Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực quản trị công ty, hạn chế rủi ro để nâng cao hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Những yếu tố nào của quản trị công ty ảnh hưởng đến rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Những yếu tố nào của quản trị công ty ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam?
  • Câu hỏi 3: Hàm ý chính sách nào có thể áp dụng để nâng cao năng lực quản trị công ty, hạn chế rủi ro để nâng cao hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017. Đây là thời kỳ các ngân hàng thương mại Việt Nam triển khai thực hiện Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và tiến hành tái cấu trúc hoạt động ngân hàng cùng hệ thống quản trị.
  • Phạm vi nội dung: Do hạn chế về số lượng ngân hàng niêm yết để xây dựng chỉ số quản trị tổng hợp, luận án tập trung sử dụng các biến đại diện thuộc về cơ cấu Hội đồng Quản trị (HĐQT) để đo lường quản trị công ty bên trong.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh các khái niệm, cơ chế đo lường và mối quan hệ giữa quản trị công ty, rủi ro và hiệu quả tài chính:

  1. Khái niệm và thước đo quản trị công ty:

    • Shleifer và Vishny (1997), Cadbury Committee (1992), La Porta và cộng sự (2000), Mathiesen (2002), Macey và O’Hara (2003), Mülbert (2010), Gillian (2006), Wells (2010), OECD (2004) và Bộ Tài chính Việt Nam (2007) định nghĩa quản trị công ty dưới các góc độ: cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, phân chia quyền hạn - trách nhiệm, và quản lý mối quan hệ giữa Ban điều hành, HĐQT, cổ đông và các bên liên quan.
    • Về đo lường, quản trị công ty có thể tiếp cận qua chỉ số tổng hợp bên ngoài (OECD, 1999, 2004; IFC, 2011, 2012; ADB / Nguyễn Thu Hiền, 2013) hoặc các biến đại diện bên trong (Dao Thi Thanh Binh và Huynh Thi Huong Giang, 2012; Rowe và cộng sự, 2011; Liang và cộng sự, 2013; Pathan và Faff, 2013; Dong và cộng sự, 2017; Setiyono và Tarazi, 2018).
  2. Đặc thù quản trị công ty trong ngân hàng:

    • Adams và Mehran (2003), Macey và O’Hara (2003), Furfine (2001), Caprio và Levine (2002), Levine (2004), Morgan (2002), Laeven (2013), Becht và cộng sự (2011, 2012), John và cộng sự (2016), Srivastav và Hagendorff (2016), DeAngelo và Stulz (2015) chỉ ra 4 điểm khác biệt căn bản:
      • Độ mờ và sự phức tạp của tài sản/khoản vay làm gia tăng bất đối xứng thông tin.
      • Đòn bẩy tài chính cao làm tăng nguy cơ đổ vỡ và xung đột lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ/người gửi tiền.
      • Chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý nhà nước với xung đột mục tiêu giữa an toàn hệ thống và tối đa hóa lợi nhuận cổ đông (Diamond, 1984; De Andres và Vallelado, 2008).
      • Sự hiện diện của bảo hiểm tiền gửi làm giảm động cơ rút tiền hoảng loạn nhưng có thể gây ra rủi ro đạo đức (Prowse, 1997; Mülbert, 2010).
  3. Tác động của các yếu tố HĐQT đến rủi ro và hiệu quả tài chính:

    • Quy mô HĐQT: Adams và Mehran (2012), Coles và cộng sự (2008), García-Meca và cộng sự (2015), Aebi và cộng sự (2012) tìm thấy tác động tích cực đến hiệu quả; Pathan và Faff (2013), Liang và cộng sự (2013), Stančić và cộng sự (2014) tìm thấy tác động tiêu cực; De Andres và Vallelado (2008), Grove và cộng sự (2011) phát hiện mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược; Minton và cộng sự (2014), Dong và cộng sự (2017) không thấy mối quan hệ rõ ràng.
    • Tính độc lập của HĐQT: Liang và cộng sự (2013), García-Meca và cộng sự (2015), Chan và cộng sự (2016) ủng hộ vai trò tích cực của thành viên độc lập; Pathan và Faff (2013), Adams (2012), Aebi và cộng sự (2012) ghi nhận ảnh hưởng tiêu cực do thiếu chuyên môn sâu về ngân hàng; De Andres và Vallelado (2008) phát hiện mối quan hệ chữ U ngược; Adams và Mehran (2012), Stančić và cộng sự (2014) ghi nhận không có ý nghĩa thống kê.
    • Đa dạng giới trong HĐQT: Bart và McQueen (2013), Carter và cộng sự (2003), García-Meca (2015) chỉ ra nữ giới nâng cao chất lượng ra quyết định; Adams và Ferreira (2009), Pathan và Faff (2013), Nguyen và cộng sự (2015), Chan và cộng sự (2016), Setiyono và Tarazi (2018) cho kết quả tác động tiêu cực, suy giảm dần hoặc không có ý nghĩa.
    • Thành viên nước ngoài: Masulis và cộng sự (2012) chỉ ra rào cản chi phí và am hiểu địa phương; Berger và cộng sự (2009), Liang và cộng sự (2013), Setiyono và Tarazi (2018) chỉ ra lợi thế chuyển giao công nghệ và giảm rủi ro phá sản; Dong và cộng sự (2017) không tìm thấy tác động.
    • Thành viên điều hành: O’Connell và Cramer (2010), Liang và cộng sự (2013) thấy tác động tích cực nhờ thông tin chuyên sâu; Hermalin và Weisbach (1991), De Andres và Vallelado (2008) cho rằng cần tỷ lệ kết hợp tối ưu; Dong và cộng sự (2017), Kusi và cộng sự (2018) không tìm thấy mối liên hệ.
    • Trình độ học vấn HĐQT: Berger và cộng sự (2014) xác nhận thành viên có học vị tiến sĩ giúp giảm rủi ro danh mục; Christiansen và cộng sự (2008) nhận thấy học vấn cao thúc đẩy đầu tư chứng khoán làm tăng rủi ro; Hau và Thum (2009), Nguyen và cộng sự (2015) không tìm thấy tương quan có ý nghĩa.
  4. Tương tác giữa rủi ro và hiệu quả tài chính:

    • Hawley (1893), Aaker và Jacobson (1987) lập luận rủi ro tỷ lệ thuận với lợi nhuận.
    • Nghịch lý của Bowman (1979) cho rằng quản trị rủi ro tốt giúp giảm rủi ro và tăng khả năng sinh lời đồng thời; Ben Zeineb và Mensi (2018) và Mamatzakis và Bermpei (2015) ghi nhận các kết quả thực nghiệm trái chiều về mối tương quan giữa Z-Score và hiệu quả.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Các nghiên cứu trên thế giới tại thị trường phát triển cho kết quả không đồng nhất và chưa tương thích hoàn toàn với bối cảnh các quốc gia đang phát triển như Việt Nam (thị trường tài chính quy mô nhỏ, sở hữu tập trung, thông tin bất cân xứng cao).
  2. Các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ nghiên cứu định tính, đánh giá thực trạng theo thông lệ quốc tế (Hạ Thị Thiều Dao, 2012; Lê Thị Huyền Diệu và Nguyễn Trung Hậu, 2012; Lê Hoàng Nga, 2012).
  3. Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước mới chỉ phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động (Lê Vĩnh Triển và Nguyễn Đức Thịnh, 2012; Dao Thi Thanh Binh và Huynh Thi Huong Giang, 2012; Tu và cộng sự, 2014), chưa phân tích đồng thời tác động đến cả rủi ro và hiệu quả tài chính, cũng như chưa kiểm chứng mối quan hệ tương tác hai chiều giữa rủi ro và hiệu quả tài chính.
  4. Nguồn số liệu của các nghiên cứu trước ở Việt Nam chỉ dừng lại ở năm 2012. Luận án cập nhật chuỗi dữ liệu giai đoạn 2011–2017, bao trùm toàn bộ giai đoạn tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết nền tảng

  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Phát triển bởi Alchian và Demsetz (1972), Jensen và Meckling (1976), kế thừa tư tưởng của Adam Smith và Ross (1973). Lý thuyết giải thích xung đột lợi ích phát sinh từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, tạo ra chi phí đại diện và bất cân xứng thông tin. HĐQT đóng vai trò là cơ chế giám sát nội bộ then chốt để căn chỉnh hành vi của người quản lý với lợi ích của cổ đông và các bên liên quan.
  • Lý thuyết quản lý (Stewardship Theory): Davis và cộng sự (1997), Smallman (2004), Clarke (2004) giả định nhà quản lý hành động vì lợi ích tập thể và tổ chức. Tuy nhiên, luận án không lựa chọn lý thuyết này làm nền tảng chính vì giả định nhà quản lý hoàn toàn trung lập là không phù hợp với thực tế cạnh tranh và xung đột lợi ích (Benston, 1985).
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Freeman (1984), Donaldson và Preston (1995), Clarkson (1995), Phillips (2003) mở rộng trách nhiệm của ban lãnh đạo ngân hàng không chỉ đối với cổ đông mà còn đối với người gửi tiền, chủ nợ, nhân viên và các cơ quan điều hành vĩ mô.
  • Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory): Hillman và cộng sự (2000), Johnson và cộng sự (1996) xem HĐQT là cầu nối mang lại nguồn lực thiết yếu từ môi trường bên ngoài (kỹ năng chuyên môn, mạng lưới quan hệ, thông tin và uy tín chính sách).

Hệ thống các biến số trong mô hình nghiên cứu

Nhóm biến Tên biến Ký hiệu Cách tính toán Cơ sở khoa học
Quản trị công ty (Độc lập) Quy mô HĐQT Bsize Tổng số lượng thành viên thuộc HĐQT De Andres và Vallelado (2008), Belkhir (2009), García-Meca và ctg (2015), Kusi và ctg (2018)
Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập Bindep Tỷ lệ số lượng thành viên độc lập trên tổng số thành viên HĐQT De Andres và Vallelado (2008), Liang và ctg (2013), García-Meca và ctg (2015)
Tỷ lệ thành viên HĐQT nữ Femdir Tỷ lệ số lượng thành viên nữ trên tổng số thành viên HĐQT Pathan và Faff (2013), García-Meca và ctg (2015), Dong và ctg (2014), Mamatzakis và Bermpei (2015)
Tỷ lệ thành viên HĐQT nước ngoài Fordir Tỷ lệ số lượng thành viên người nước ngoài trong HĐQT Dong và ctg (2017)
Tỷ lệ thành viên HĐQT điều hành Execdir Tỷ lệ số lượng thành viên HĐQT tham gia điều hành trong HĐQT Đề xuất theo Khoản 1, Điều 34 Luật các TCTD năm 2010
Trình độ học vấn HĐQT Edu Tỷ lệ số lượng thành viên HĐQT có trình độ sau đại học trong HĐQT Berger và ctg (2014), Chan và ctg (2016), Setiyono và Tarazi (2018)
Rủi ro ngân hàng (Phụ thuộc) Rủi ro phá sản Z-Score Chỉ số đo lường rủi ro tổng hợp dựa trên kế toán Beltratti và Stulz (2012), Minton và ctg (2014), Laeven và Levine (2009)
Rủi ro tín dụng NPL Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay Thông tư 02/2013/TT-NHNN
Hiệu quả tài chính (Phụ thuộc) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản De Andres và Vallelado (2008), Adams và Mehran (2012), Liang và ctg (2013)
Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH ROE Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu Elyasiani và Zhang (2015), Liang và ctg (2013), Berger và ctg (2005)
Thu nhập lãi cận biên NIM Thu nhập lãi thuần / Tổng tài sản sinh lời Pathan và Faff (2013), Rose và Hudgins (2008)
Biến kiểm soát Các đặc tính ngân hàng và vĩ mô Control (1) Quy mô ngân hàng, (2) Quy mô cho vay, (3) Quy mô vốn chủ sở hữu, (4) Dư nợ/vốn huy động, (5) Thanh khoản, (6) Hiệu quả quản lý, (7) Ngân hàng niêm yết, (8) Tăng trưởng kinh tế Tổng hợp từ các nghiên cứu thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật ước lượng

  • Quy trình nghiên cứu: Thực hiện qua 5 bước: (1) Lược khảo lý thuyết, tổng quan nghiên cứu và xác định khoảng trống; (2) Xây dựng mô hình thực nghiệm và phương pháp ước lượng; (3) Thu thập, xử lý dữ liệu và kiểm định các vi phạm giả thuyết; (4) Phân tích kết quả hồi quy và thảo luận; (5) Kết luận và đề xuất hàm ý chính sách.
  • Kỹ thuật kinh tế lượng:
    • Phân tích hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data Regression) với các mô hình OLS gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
    • Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (ma trận tương quan, hệ số VIF), kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tự tương quan.
    • Sử dụng phương pháp hồi quy GMM hệ thống (System Generalized Method of Moments - SGMM) để khắc phục hiện tượng nội sinh tiềm ẩn đối với mục tiêu kiểm định rủi ro (Mục tiêu 1).
    • Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan đối với mục tiêu kiểm định hiệu quả tài chính (Mục tiêu 2).
    • Phần mềm xử lý: Stata phiên bản 15.1.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp từ 29 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 7 năm (2011–2017). Mẫu nghiên cứu bao gồm:

  • 3 NHTM Nhà nước (trong tổng số 7 NHTM Nhà nước): CTG (VietinBank), VCB (Vietcombank), BID (BIDV).
  • 26 NHTM Cổ phần (trong tổng số 28 NHTM Cổ phần).
  • Xét theo tình trạng niêm yết: Gồm 10 ngân hàng niêm yết trên HOSE và HNX tính đến 31/12/2017 (CTG, VCB, BID, ACB, EIB, MBB, NCB, SHB, STB, VPB) và 19 ngân hàng chưa niêm yết.
  • Tính đại diện của mẫu: Tổng tài sản của 29 NHTM trong mẫu tại ngày 31/12/2017 đạt 7.728 nghìn tỷ đồng, chiếm 90,3% tổng tài sản của toàn bộ 35 NHTM trong hệ thống (8.594 nghìn tỷ đồng).
  • Nguồn thu thập: Báo cáo thường niên, Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán, Báo cáo quản trị công ty, Tài liệu Đại hội đồng cổ đông của các ngân hàng; Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (WEO) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung tổng thể cho toàn bộ luận án, bao gồm:

  • Trình bày tính cấp thiết xuất phát từ các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và thực trạng tái cơ cấu các ngân hàng thương mại Việt Nam sau các biến cố quản trị năm 2012.
  • Xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể và 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng.
  • Giới hạn đối tượng, phạm vi không gian (hệ thống NHTM Việt Nam), thời gian (2011–2017) và nội dung (tiếp cận theo các biến đại diện HĐQT).
  • Nêu tóm tắt phương pháp nghiên cứu (hồi quy dữ liệu bảng, SGMM, GLS trên Stata 15.1), dữ liệu 29 NHTM và chỉ rõ các đóng góp mới của đề tài cùng kết cấu 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của ngân hàng

Chương 2 xây dựng nền tảng lý luận chuyên sâu và khung phân tích:

  • Hệ thống hóa các khái niệm về quản trị công ty, sự khác biệt căn bản giữa quản trị ngân hàng và doanh nghiệp phi tài chính qua 4 đặc thù (độ mờ, đòn bẩy cao, giám sát bởi cơ quan quản lý, bảo hiểm tiền gửi).
  • Phân tích 4 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết đại diện, Lý thuyết quản lý, Lý thuyết các bên liên quan và Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực; đồng thời lập luận về việc không sử dụng lý thuyết quản lý làm lý thuyết nền chính.
  • Phân loại rủi ro ngân hàng (tập trung vào rủi ro phá sản đo bằng Z-score và rủi ro tín dụng đo bằng NPL) và hiệu quả tài chính (tiếp cận qua báo cáo tài chính: ROA, ROE, NIM).
  • Tổng hợp các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về mối quan hệ giữa 6 đặc tính HĐQT (quy mô, tính độc lập, giới tính, yếu tố nước ngoài, tính điều hành, học vấn) với rủi ro và hiệu quả tài chính.
  • Phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều giữa rủi ro và hiệu quả tài chính dựa trên lý thuyết rủi ro của Hawley (1893) và nghịch lý Bowman (1979).
  • Đúc kết khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm cùng các giả thuyết.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:

  • Trình bày quy trình nghiên cứu 5 bước từ lược khảo lý thuyết, xác định khe hổng, xây dựng mô hình, thu thập xử lý dữ liệu đến ước lượng và kết luận.
  • Mô tả mẫu nghiên cứu gồm 29 NHTM (chiếm 90,3% tổng tài sản toàn hệ thống) giai đoạn 2011–2017, giải trình lý do lựa chọn 3 NHTM Nhà nước (CTG, VCB, BID) và 26 NHTM Cổ phần (gồm 10 ngân hàng niêm yết và 19 ngân hàng chưa niêm yết).
  • Định nghĩa, xây dựng công thức đo lường cho các biến phụ thuộc (Z-Score, NPL, ROA, ROE, NIM), biến giải thích (Bsize, Bindep, Femdir, Fordir, Execdir, Edu) và hệ thống các biến kiểm soát.
  • Thiết lập phương pháp xử lý số liệu: phân tích thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm định đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi; ứng dụng phương pháp SGMM cho mô hình rủi ro (Mục tiêu 1) và phương pháp GLS cho mô hình hiệu quả tài chính (Mục tiêu 2).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày kết quả ước lượng thực nghiệm trên phần mềm Stata 15.1:

  • Cung cấp kết quả thống kê mô tả mẫu dữ liệu 29 NHTM giai đoạn 2011–2017.
  • Trình bày ma trận tương quan và các kiểm định chẩn đoán mô hình (kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng tự tương quan và kiểm định phương sai của sai số thay đổi).
  • Trình bày kết quả ước lượng hồi quy tuyến tính, kiểm định tính phù hợp của hàm hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
  • Thảo luận chi tiết về các nhân tố QTCT tác động đến rủi ro: xác nhận vai trò của tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập (Bindep), tỷ lệ thành viên nữ (Femdir), tỷ lệ thành viên người nước ngoài (Fordir) và tỷ lệ thành viên điều hành (Execdir).
  • Thảo luận các nhân tố QTCT tác động đến hiệu quả tài chính: xác nhận vai trò của tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập (Bindep), tỷ lệ thành viên nữ (Femdir), tỷ lệ thành viên điều hành (Execdir) và trình độ học vấn của HĐQT (Edu).
  • Đánh giá và kiểm chứng mối quan hệ nghịch biến giữa rủi ro và hiệu quả tài chính của các NHTM trong bối cảnh thực hiện quản trị công ty tại Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 đúc kết các phát hiện và định hướng ứng dụng:

  • Tóm lược các kết quả nghiên cứu chính về tác động của các thành phần cơ cấu HĐQT đến rủi ro và hiệu quả tài chính.
  • Đề xuất hệ thống các hàm ý chính sách dành cho các cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ) và ban lãnh đạo các NHTM nhằm tái cơ cấu HĐQT, gia tăng tính độc lập, đa dạng hóa thành viên (giới tính, quốc tịch), kiểm soát tỷ lệ thành viên điều hành theo Luật các TCTD 2010 và nâng cao trình độ chuyên môn.
  • Nêu rõ các hạn chế còn tồn tại của đề tài và định hướng các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Các yếu tố quản trị công ty tác động đến rủi ro ngân hàng: Kết quả thực nghiệm tại các NHTM Việt Nam xác định 4 yếu tố thuộc cơ cấu HĐQT có tác động đến rủi ro bao gồm:
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập (Bindep).
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT là nữ (Femdir).
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT là người nước ngoài (Fordir).
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành (Execdir).
  2. Các yếu tố quản trị công ty tác động đến hiệu quả tài chính ngân hàng: Kết quả xác định 4 yếu tố thuộc cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính bao gồm:
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập (Bindep).
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT là nữ (Femdir).
    • Tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành (Execdir).
    • Trình độ học vấn của thành viên HĐQT (Edu).
  3. Mối quan hệ tương tác giữa rủi ro và hiệu quả tài chính: Luận án kiểm chứng và đưa ra bằng chứng thực nghiệm xác nhận rủi ro và hiệu quả tài chính có mối quan hệ nghịch biến trong điều kiện thực tế tại Việt Nam (phù hợp với lập luận nghịch lý Bowman).

Những đóng góp mới của luận án

  • Về mặt thực nghiệm: Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam phân tích đồng thời tác động của quản trị công ty đến cả rủi ro và hiệu quả tài chính đối với các ngân hàng thương mại.
  • Về mặt lý luận: Trình bày đầy đủ cơ sở lý thuyết về quản trị công ty, rủi ro và hiệu quả tài chính ngân hàng, làm nền tảng biện luận và phát triển các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế vào thị trường Việt Nam.
  • Về mặt hệ thống hóa: Hệ thống hóa toàn diện các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các biến đại diện HĐQT với rủi ro và hiệu quả tài chính ngân hàng.
  • Về mặt phương pháp và biến số: Đề xuất và đưa vào mô hình biến tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành (Execdir) để phản ánh sát thực tiễn quy định tại Khoản 1, Điều 34, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
  • Về kiểm chứng tương tác: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ tương tác nghịch biến giữa rủi ro và hiệu quả tài chính trong bối cảnh quản trị ngân hàng tại Việt Nam.

Hàm ý chính sách và kiến nghị đề xuất

Căn cứ trên kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra các hàm ý chính sách nhằm:

  • Hoàn thiện cơ cấu tổ chức HĐQT tại các NHTM, tối ưu hóa tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập để tăng cường năng lực giám sát.
  • Chú trọng thúc đẩy sự đa dạng trong HĐQT thông qua việc gia tăng tỷ lệ thành viên nữ và thành viên người nước ngoài nhằm tiếp thu kinh nghiệm quản trị quốc tế.
  • Kiểm soát và duy trì tỷ lệ hợp lý đối với thành viên HĐQT tham gia điều hành theo đúng quy định của Luật các TCTD năm 2010 nhằm hạn chế xung đột lợi ích.
  • Nâng cao tiêu chuẩn về trình độ học vấn chuyên môn sau đại học của các thành viên HĐQT để áp dụng các kỹ thuật quản trị rủi ro hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phương pháp đo lường quản trị công ty: Luận án mới chỉ tiếp cận quản trị công ty thông qua các biến đại diện thuộc về cơ cấu HĐQT bên trong, chưa xây dựng được chỉ số quản trị công ty tổng hợp do thị trường Việt Nam giai đoạn này có rất ít ngân hàng niêm yết (chỉ có 10 ngân hàng niêm yết tính đến 31/12/2017).
  • Phương pháp đo lường hiệu quả tài chính: Nghiên cứu chỉ tập trung đo lường hiệu quả tài chính dựa trên số liệu kế toán từ báo cáo tài chính (ROA, ROE, NIM) mà chưa áp dụng được các thước đo dựa trên giá trị thị trường (như Tobin’s Q, PBV) do phần lớn cổ phiếu ngân hàng chưa niêm yết hoặc giao dịch kém thanh khoản.
  • Mẫu dữ liệu khối NHTM Nhà nước: Mặc dù mẫu nghiên cứu bao phủ 90,3% tổng tài sản hệ thống, việc thu thập thông tin của các NHTM Nhà nước còn gặp khó khăn, dẫn đến việc chỉ đưa vào được 3/7 ngân hàng thuộc khối này (CTG, VCB, BID).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở năm 2017 theo giai đoạn đầu của tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng chuỗi dữ liệu thời gian sang các năm tiếp theo để đánh giá tác động dài hạn của các đề án tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng.
  • Bổ sung các thước đo hiệu quả tài chính dựa trên thị trường (Tobin's Q, PBV) khi số lượng ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán gia tăng.
  • Mở rộng nghiên cứu sang các khía cạnh quản trị khác ngoài cơ cấu HĐQT, chẳng hạn như cơ cấu Ban kiểm soát, các ủy ban trực thuộc HĐQT hoặc cấu trúc sở hữu ngân hàng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

  1. Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh:

    • Cung cấp khung lý thuyết hệ thống về quản trị công ty đặc thù trong ngân hàng (Lý thuyết đại diện, Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực).
    • Cung cấp mô hình kinh tế lượng mẫu mực sử dụng hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp SGMM xử lý nội sinh và GLS xử lý khuyết tật phương sai thay đổi trên phần mềm Stata.
    • Bảng tổng hợp chi tiết các biến số HĐQT, rủi ro (Z-score, NPL) và hiệu quả tài chính (ROA, ROE, NIM).
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế:

    • Tài liệu tham khảo toàn diện về các công trình nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về quản trị ngân hàng.
    • Cơ sở để phát triển các đề tài nghiên cứu mở rộng về cấu trúc sở hữu, quản trị rủi ro thanh khoản và an toàn vốn theo chuẩn mực Basel.
  3. Ban quản trị và điều hành các Ngân hàng Thương mại:

    • Cơ sở thực tiễn để cơ cấu lại thành phần HĐQT: phân bổ tỷ lệ hợp lý giữa thành viên điều hành và không điều hành, thành viên độc lập, thành viên nữ, thành viên nước ngoài và yêu cầu trình độ chuyên môn sau đại học.
    • Định hướng cân bằng giữa mục tiêu tối đa hóa khả năng sinh lời và kiểm soát rủi ro phá sản, rủi ro tín dụng.
  4. Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách:

    • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ việc rà soát, đánh giá hiệu quả thực thi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (đặc biệt là Khoản 1 Điều 34).
    • Định hình các quy định, hướng dẫn tiếp theo về tiêu chuẩn quản trị công ty, công bố thông tin và lộ trình áp dụng chuẩn mực an toàn vốn quốc tế (Basel II, Basel III).

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn đo lường quản trị công ty thông qua các biến đại diện HĐQT thay vì chỉ số tổng hợp?

Theo tác giả, việc tính toán chỉ số quản trị công ty tổng hợp (như bộ chỉ số 179 câu hỏi của OECD) đòi hỏi mức độ minh bạch và công bố thông tin rất cao. Tại Việt Nam tính đến ngày 31/12/2017, toàn hệ thống chỉ có 10/35 ngân hàng thương mại thực hiện niêm yết trên sàn chứng khoán (HOSE và HNX). Do đó, dữ liệu để tiếp cận theo hướng chỉ số tổng hợp bị thiếu hụt và không đầy đủ, buộc nghiên cứu phải sử dụng 6 biến đại diện cụ thể thuộc về cơ cấu bên trong của HĐQT.

2. Biến "Tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành" (Execdir) được tác giả xây dựng dựa trên cơ sở nào?

Biến Execdir được tác giả đề xuất đưa vào mô hình nhằm phản ánh sát thực tế môi trường pháp lý tại Việt Nam, cụ thể là để phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 34 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về tổ chức, quản trị, điều hành và hạn chế kiêm nhiệm của các thành viên HĐQT ngân hàng.

3. Mẫu nghiên cứu của luận án gồm bao nhiêu ngân hàng và có tính đại diện như thế nào?

Mẫu nghiên cứu gồm 29 ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2017 (gồm 3 NHTM Nhà nước là CTG, VCB, BID và 26 NHTM Cổ phần). Tổng tài sản của 29 ngân hàng này tại ngày 31/12/2017 đạt 7.728 nghìn tỷ đồng, chiếm 90,3% tổng tài sản của toàn bộ 35 NHTM trong hệ thống (8.594 nghìn tỷ đồng), đảm bảo tính đại diện cho hệ thống NHTM Việt Nam.

4. Những yếu tố quản trị công ty nào được xác định có tác động đến rủi ro và hiệu quả tài chính của ngân hàng?

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác định:

  • Các yếu tố tác động đến rủi ro ngân hàng gồm: Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập (Bindep), Tỷ lệ thành viên HĐQT là nữ (Femdir), Tỷ lệ thành viên HĐQT là người nước ngoài (Fordir) và Tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành (Execdir).
  • Các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính gồm: Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập (Bindep), Tỷ lệ thành viên HĐQT là nữ (Femdir), Tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành (Execdir) và Trình độ học vấn của HĐQT (Edu).

5. Luận án kết luận mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam diễn ra theo chiều hướng nào?

Luận án chỉ ra rằng rủi ro và hiệu quả tài chính có mối quan hệ nghịch biến trong điều kiện thực nghiệm tại Việt Nam. Kết quả này ủng hộ lý thuyết nghịch lý về rủi ro và lợi nhuận của Bowman (1979), khẳng định các ngân hàng thực hiện tốt công tác quản trị và kiểm soát rủi ro sẽ đạt được mức độ an toàn cao hơn đồng thời gia tăng khả năng sinh lời.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của 29 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011–2017. Thông qua việc ứng dụng các phương pháp kinh tế lượng dữ liệu bảng, SGMM và GLS trên phần mềm Stata 15.1, nghiên cứu đã chứng minh các đặc tính cơ cấu HĐQT (tính độc lập, giới tính, quốc tịch, tính điều hành và trình độ học vấn) có tác động rõ rệt đến mức độ rủi ro (Z-score, NPL) và hiệu quả sinh lời (ROA, ROE, NIM). Kết quả thực nghiệm đồng thời khẳng định mối quan hệ nghịch biến giữa rủi ro và hiệu quả tài chính trong bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng tại Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn để các ngân hàng thương mại kiện toàn bộ máy quản trị HĐQT và giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện thể chế giám sát an toàn hệ thống tín dụng.