CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIÊM VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO PHÁ SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5: HÀM Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIÊM VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO PHÁ SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Lý thuyết về rủi ro phá sản của NHTM 2. Các khái niệm về phá sản ngân hàng NHTM Khái niệm “phá sản” thường được hiểu : (1) là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản, hoặc (2) là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó. Tuy nhiên trong nghiên cứu, việc phá sản doanh nghiệp không chỉ là các quyết định của Tòa án hay việc doanh nghiệp tự nộp đơn phá sản mà tùy vào thời điểm, thị trường được nghiên cứu mà các tác giả có quan điểm khác nhau về phá sản và nguy cơ phá sản.
Altman (1968) nghiên cứu tại Mỹ cho rằng các doanh nghiệp phá sản khi không giải quyết được nghĩa vụ nợ và nộp đơn xin phá sản. Shelagh Hefferman (2005) cho rằng khả năng phá sản của các doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khi nợ phải trả vượt quá tài sản hoặc tài sản ròng âm Tuy nhiên quan điểm về phá sản doanh nghiệp cần được xem xét khi áp dụng vào NHTM do những đặc thù khác biệt trong kinh doanh. NHTM hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đây là lĩnh vực nhạy cảm và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể xuất hiện nhiều rủi ro và chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau, khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ tạo ra tác động lan truyền đến các NHTM khác.
Chính vì thế Chính phủ và NHNN luôn kiểm soát chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm ổn định hệ thống tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng xảy ra ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, các đơn vị quản lý cũng sẽ thực hiện rất nhiều biện pháp khác nhau trước khi để phá sản thực sự diễn ra. 7 Sự phá sản ngân hàng, trong thuật ngữ tiếng Anh có thể kể đến như Bank failure, Bank bankruptcy, Bank insolvency, trong đó Bank failure được sử dụng nhiều hơn cả. Nếu Bank failure và Bank bankruptcy chỉ về sự phá sản ngân hàng nói chung, thì Bank insolvency lại chỉ riêng trường hợp ngân hàng phá sản do mất khả năng thanh toán.
Daniel Martin (1977), một chuyên gia của Ngân hàng Dự trữ Liên Bang Mỹ tại New York trong một nghiên cứu về dự báo sớm khả năng phá sản NHTM đã cho rằng, ngân hàng sẽ phá sản nếu giá trị ròng bị âm hoặc nếu tiếp tục hoạt động sẽ dẫn tới thiệt hại ngay lập tức dẫn đến giá trị ròng âm. Tuy nhiên, hầu hết các tình huống thất bại của ngân hàng được giải quyết bằng những cách không dẫn đến phá sản theo nghĩa hợp pháp. Giám sát sáp nhập bắt buộc, trong đó ngân hàng yếu hơn được sáp nhập vào một ngân hàng mạnh hơn theo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước, được áp dụng thường xuyên hơn là để ngân hàng phá sản thực tế. (1996) trong nghiên cứu Sự thất bại của ngân hàng, rủi ro hệ thống và các điều tiết về ngân hàng đã định nghĩa, một ngân hàng không thành công về mặt kinh tế khi giá trị thị trường của tài sản giảm xuống dưới giá trị thị trường của nợ phải trả, do đó giá trị thị trường của vốn (giá trị ròng) trở nên âm.
Vào thời điểm đó, ngân hàng không thể mong đợi trả hết tiền cho người gửi tiền đầy đủ và đúng thời hạn. Theo Business dictionary, phá sản ngân hàng xảy ra khi ngân hàng mất khả năng thanh toán và không thể đáp ứng các nghĩa vụ tín dụng của nó, và buộc phải đóng cửa bởi các cơ quan quản lý. Điều này thường xảy ra khi ngân hàng có các khoản nợ quá lớn và không có khả năng thanh toán bằng các nguồn vốn có sẵn và không còn các khoản tiền cần thiết để duy trì dòng tiền mặt ổn định. Khác với các định nghĩa trên, Logan A.
(2001) và Shelagh Hefferman (2005) đều đưa ra khái niệm về phá sản NHTM là khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khỏe mạnh, được sự kiểm soát của chính phủ hoặc ngân hàng đó phải nhận sự cứu trợ từ NHTW. Khái niệm này về bản chất không phải là việc ngân hàng nộp đơn phá sản, mà là ngay khi ngân hàng 8 không thanh toán được các khoản nợ, và bị các cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp đặc biệt để kiểm soát rủi ro lan rộng. Có thể tóm lại, phá sản NHTM xảy ra theo nghĩa hẹp là khi ngân hàng không thể thanh toán được các khoản nợ bằng nguồn vốn tự có và nộp đơn phá sản. Theo nghĩa rộng, phá sản ngân hàng còn được tính trong các trường hợp bị mua lại bởi các ngân hàng mạnh, bị cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp đặc biệt như chỉ định sáp nhập hoặc quốc hữu hóa.
Rủi ro phá sản ngân hàng Thuật ngữ rủi ro hay nguy cơ phá sản ngân hàng (Bank failure risk) được sử dụng trong nghiên cứu nước ngoài với hàm ý tổng hợp các rủi ro ngân hàng gặp phải dẫn đến phải đối mặt với sự phá sản. Sherrill Shaffer (2012) trong nghiên cứu về rủi ro phá sản NHTM tại Úc đã nêu ra rủi ro phá sản hay nguy cơ thất bại là tập hợp của các rủi ro ngân hàng gặp phải, tăng giảm rủi ro này bằng cách điều chỉnh các yếu tố rủi ro trong ngân hàng. Ví dụ như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cao hơn thì rủi ro phá sản cao hơn. Tại Việt Nam, Nguyễn Thanh Dương (2013) cho rằng việc giảm thu nhập dẫn tới làm thâm hụt vốn sẽ khiến ngân hàng lâm vào trạng thái khánh kiệt và đứng trước nguy cơ phá sản.
Phạm Tiến Đạt (2013) khi đánh giá rủi ro trong NHTM nhằm phục vụ cho hoạt động kiểm toán BCTC, đã cho rằng Rủi ro vỡ nợ là rủi ro khi ngân hàng không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng. Có thể thấy định nghĩa này đã chỉ ra dấu hiệu cụ thể để xác định phá sản ngân hàng, đó là giá trị tài sản suy giảm dẫn đến VCSH không đủ bù đắp. Nguyên nhân do: (i) hậu quả của các loại rủi ro khác trong ngân hàng, như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,… hoặc (ii) do quản lý yếu kém, hoặc (iii) suy thoái kinh tế. 9 Tóm lại, rủi ro phá sản NHTM là rủi ro xảy ra khi NHTM đứng trước nguy cơ nộp đơn phá sản, hoặc bị kiểm soát bởi cơ quan có thẩm quyền, hoặc bị bắt buộc sáp nhập vào ngân hàng khác.
Rủi ro phá sản NHTM xảy ra do nguyên nhân từ các rủi ro khác trong hoạt động của NHTM, xuất phát từ nội tại ngân hàng hoặc từ môi trường kinh doanh bên ngoài, mà biểu hiện đầu tiên là không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản, mất khả năng thanh khoản. Đo lường rủi ro phá sản NHTM Một trong những nghiên cứu đầu tiên về phá sản doanh nghiệp là của Beaver (1966), trong nghiên cứu về “Financial Ratios as Predictors of Failure” (Các chỉ số tài chính dự báo sự phá sản), cho rằng một trong những dấu hiệu để nhận biết công ty phá sản là công ty không thanh toán được trái phiếu công ty khi đến hạn, không chi trả được cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi, có tài khoản ngân hàng bị thấu chi. Beaver đã tiến hành so sánh 6 tỷ số tài chính: dòng tiền/tổng nợ; thu nhập ròng/tổng tài sản; tổng nợ/tổng tài sản; vốn lưu động/tổng tài sản; tỷ lệ thanh toán hiện thời; khoảng phi tín dụng (no-credit interval) giữa các công ty vỡ nợ và không vỡ nợ. Kết quả cho thấy sự khác biệt giữa 2 nhóm này.
Từ đó nghiên cứu cho rằng có thể dự đoán được nguy cơ vỡ nợ qua các tỷ số tài chính. Kế thừa nghiên cứu của Beaver (1966), Altman (1968) đã đưa ra nghiên cứu “Financial ratios, discriminant analysis and the prediction of corporate bankruptcy” (Các tỷ số tài chính, phân tích biệt số và dự báo phá sản công ty). Mô hình Altman Z - score là kết quả thực nghiệm trên 66 doanh nghiệp sản xuất từ năm 1946 - 1965 (trong đó 33 doanh nghiệp phá sản và 33 doanh nghiệp không phá sản); là chỉ số kết hợp 5 tỷ số tài chính khác nhau với các trọng số khác nhau. Mô hình cho kết quả dự báo có độ chính xác đến 95% các công ty phá sản trong thời gian trước 1 năm và 72% trong vòng 2 năm.
Mô hình chỉ số Z lúc này được ứng dụng cho các doanh nghiệp sản xuất đã cổ phần hóa. Năm 1977 Altman, Haldenman và Narayanan đã xây dựng mô hình mới để xác định nguy cơ phá sản của các tập đoàn (mô hình ZETA). Mô hình sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1969 đến 1975 gồm 53 công ty phá sản và 58 công ty không 10 phá sản. Các công ty này được chia thành 2 nhóm sản xuất và thương mại bán lẻ.
Đặc biệt mô hình sử dụng phương pháp phân tích phân biệt số, đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các mô hình dự báo sau này. Mô hình cho kết quả dự báo có độ chính xác đến 95% các công ty phá sản trong thời gian trước 1 năm và đến 70% các công ty phá sản trong thời gian trước 5 năm. Nghiên cứu cho thấy rằng không có sự khác biệt lớn giữa các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực khác. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đưa ra các biến để dự báo phá sản nhưng không đưa ra các hệ số cho các biến nên không được sử dụng rộng rãi và kiểm định tính thực tiễn bởi các nghiên cứu khác.