Chương 1: Giới thiệu Nhằm nêu rõ lý do chọn đề tài cũng như mục tiêu, đối tượng, phạm vi, dữ liệu và phương pháp và các đóng góp của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Phần này tổng hợp những nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu và được trình bày theo từng quan điểm tách biệt. Xem xét những yếu tố cụ thể tác động lên hành vi rủi ro qua kết quả của những nghiên cứu trước đây, từ đó cung cấp các nhìn đa chiều và là nền tảng để dự đoán mối quan hệ giữa các biến. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Giới thiệu chi tiết bộ dữ liệu cũng như lý giải lý do lựa chọn phương pháp và mô hình nghiên cứu.
Ngoài ra, chương này nêu cách tính các biến và kỳ vọng về dấu đối với hành vi chấp nhận rủi ro ngân hàng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trong phần này, về mối tương quan dấu và mức độ của các biến, đồng thời lý giải dựa trên các lý thuyết và các kết quả thực nghiệm đã có. Chương 5: Kết luận Phần này tóm tắt lại toàn bộ luận văn, những kết quả nghiên cứu từ đó gợi ý chính sách cũng như nhìn nhận những mặt hạn chế của luận văn và mở các hướng đi cho 123doc 4 các bài nghiên cứu sau này. Ý nghĩa đề tài Về lý thuyết: Cung cấp một kết quả thực nghiệm đào sâu về tác động của lãi suất cũng như các yếu tố khác lên rủi ro.
Về thực tiễn: Gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến chủ đề và gợi ý cho các nhà làm chính sách quan tâm về vấn đề rủi ro ngân hàng cách quản lý, hạn chế và phòng tránh rủi ro. 123doc 5 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG 2. Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng Quan điểm tương quan nghịch Chấp nhận rủi ro ngân hàng quá mức thì rất đáng lên án.
Một hướng thảo luận gần đây chú ý đến việc liệu lãi suất tương đối thấp liệu có làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Nói ngắn gọn, lý thuyết này đề xuất rằng môi trường lãi suất thấp, trong khi các yếu tố khác không thay đổi, làm lợi nhuận ngân hàng và sự không đối xứng về thông tin giảm xuống. Do đó, các ngân hàng phản ứng bằng cách làm giảm các tiêu chuẩn cho vay của họ, do đó nâng cao mức tài sản rủi ro trong danh mục đầu tư của họ và làm xấu đi sự cân bằng rủi ro phá sản. Sau đây là một vài nghiên cứu nổi bật liên quan đến chủ đề này.
Dell’ Ariccia và Marquez (2006) xem xét sự phân phối thông tin về người đi vay ngân hàng tương tác với hành vi chiến lược của ngân hàng trong việc xác định các tiêu chuẩn cho vay (được thể hiện thông qua việc sử dụng các yêu cầu về yếu tố đảm bảo tín dụng), khối lượng cho vay và tổng thể phân phối tín dụng. Trong bối cảnh các ngân hàng nhận được thông tin riêng tư về mức độ tin cậy của khách hàng, tác giả chỉ ra rằng các ngân hàng có thể nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay khi thông tin không đối xứng các ngân hàng đối mặt ở mức thấp. Trong trạng thái cân bằng, việc giảm các tiêu chuẩn dẫn đến giảm giá trị danh mục đầu tư của ngân hàng, giảm lợi nhuận, và mở rộng tổng khối lượng tín dụng. Hơn nữa, tác giả thấy rằng mặc dù các tiêu chuẩn thấp có thể làm tăng thặng dư chung, nhưng chúng làm tỷ lệ tài sản rủi ro trên tổng tài sản của các ngân hàng tăng lên đáng kể, cũng là làm tăng nguy cơ mất ổn định tài chính.
Như vậy, thay đổi cấu trúc thông tin của thị trường có thể có tác động đáng kể đến khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng ngay cả khi không có bất kỳ sự thay đổi nào trong nền tảng cơ bản của nền kinh tế. Tác giả tạo ra một lời giải thích mới cho mối quan hệ giữa sự bùng nổ cho vay và những giai đoạn 123doc 6 căng thẳng về tài chính được nhấn mạnh trong các nghiên cứu thực nghiệm gần đây. Tức là, tác giả đưa ra một giải thích cho chuỗi tự do hoá tài chính, bùng nổ tín dụng, và khủng hoảng ngân hàng đã xảy ra ở nhiều thị trường mới nổi. Mô hình của tác giả dự đoán mối quan hệ nghịch chiều giữa nhu cầu cho vay mới và tiêu chuẩn cho vay.
Điều này đã được xác nhận gián tiếp trong Asea và Blomberg (1998), những người thấy rằng các tiêu chuẩn cho vay của Hoa Kỳ có khuynh hướng thay đổi một cách có hệ thống theo chu kỳ kinh tế, với yêu cầu thế chấp tăng trong suốt sự thu hẹp chu kỳ và giảm trong giai đoạn mở rộng chu kỳ. Lown và Morgan (2003) cũng thấy rằng các tiêu chuẩn cho vay được các ngân hàng áp dụng khác nhau trong chu kỳ. Gần đây hơn, Berger và Udell (2004) tìm thấy bằng chứng cho chu kỳ của các tiêu chuẩn vay liên quan đến sự thay đổi trong việc phân phối thông tin phù hợp với kết quả của Dell’ Ariccia và Marquez (2006). Mặc dù các tác giả trước Dell’ Ariccia và Marquez (2006) tập trung vào giải thích ở cấp độ ngân hàng, họ nhận thấy tầm quan trọng của một lý do thuộc về toàn hệ thống làm giảm bớt các tiêu chuẩn cho vay, chẳng hạn như giả thuyết dựa trên thông tin của tác giả.
Mô hình của tác giả cũng dự đoán rằng giai đoạn suy thoái tài chính có nhiều khả năng xảy ra sau thời kỳ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ. Chuỗi sự kiện này, trong đó có Achentina năm 1980, Chile năm 1982, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan năm 1992, Mexico năm 1994 và Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc năm 1997 là những ví dụ quan trọng nhất, đã được chứng minh bằng sự gia tăng lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng. Ví dụ, Demirguc-Kunt và Detragiache (1998) tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng cho vay bùng nổ trước những đợt khủng hoảng ngân hàng. Gourinchas, Valdes và Landerretche (2001) kiểm tra một số lượng lớn các giai đoạn bùng nổ cho vay và thấy rằng xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng sẽ tăng đáng kể sau những giai đoạn như vậy.
Hơn nữa, điều kiện của việc có một cuộc khủng hoảng ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào kích thước của sự bùng nổ. Theo Rajan (2006) sự phát triển trong lĩnh vực tài chính đã dẫn tới việc mở 123doc 7 rộng khả năng lan truyền rủi ro. Việc tăng khả năng chịu rủi ro của các nền kinh tế, cũng như trong việc thực hiện rủi ro thực tế đã dẫn đến một loạt các giao dịch tài chính mà trước đây không thể thực hiện và đã tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp và hộ gia đình. Trên tổng thể, điều này đã làm cho thế giới tốt hơn nhiều.
Đồng thời, chúng ta cũng thấy sự nổi lên của một loạt các trung gian tài chính có quy mô lớn và bị hấp dẫn bởi rủi ro có thể lan rộng trong chu kỳ kinh tế. Các trung gian này không những có thể làm bật lên sự biến động thực sự, mà còn mạo hiểm với một số rủi ro xác suất nhỏ mà hành vi của họ có làm khả năng xảy ra biến động lớn hơn. Do đó, trong một số điều kiện, các nền kinh tế có thể trong tình trạng nguy hiểm nhiều hơn với những rối loạn do khu vực tài chính gây ra hơn trước đây. Các nhà đầu tư có thể có những lựa chọn sai lầm.
Đầu tiên là người quản lý che giấu động cơ chấp nhận rủi ro trước các nhà đầu tư - vì rủi ro và lợi nhuận có liên quan, người quản lý trông như thể tạo ra kết quả tốt ngang với rủi ro. Thông thường, các loại rủi ro có thể bị che giấu là những rủi ro tạo ra những hậu quả xấu nghiêm trọng với xác suất nhỏ nhưng bù lại sẽ hứa hẹn lợi nhuận cao trong suốt thời gian đầu tư còn lại. Những rủi ro này được gọi là rủi ro đuôi. Hình thức thứ hai của hành vi lựa chọn sai lầm là động cơ bầy đàn chạy theo các nhà quản lý đầu tư khác trong lựa chọn đầu tư, bởi vì bầy đàn mang đến sự bảo hiểm cho người quản lý rằng sẽ không có kết quả thấp hơn so với những nhà quản lý khác.
Hành vi bầy đàn có thể đẩy giá tài sản ra khỏi nguyên tắc cơ bản. Các nhà quản lý khác nhau có thể bị ảnh hưởng bởi những biến dạng này ở một mức độ khác nhau - những người còn trẻ và chưa được trải nghiệm có thể sẽ chấp nhận nhiều rủi ro đuôi, trong khi những người đã trải nghiệm thì có xu hướng bầy đàn nhiều hơn. Nếu hành vi bầy đàn làm di chuyển giá tài sản đi xa khỏi nguyên tắc cơ bản, thì khả năng tự sắp xếp lại lớn - chính xác là loại gây tổn thất đuôi - tăng lên. Một thành phần cuối cùng có thể làm cho hỗn hợp trở nên bất ổn, đó là lãi suất thấp sau một thời gian có lãi suất cao.
Một môi trường có lãi suất thấp sau 123doc 8 một thời gian có lãi suất cao là một vấn đề đặc biệt khó giải quyết, vì không chỉ khuyến khích một số người tham gia "tìm kiếm lợi nhuận" tăng lên mà còn cả giá tài sản có thể dẫn đến tăng xoắn ốc, tạo ra một sự tự sắp xếp lại nhanh và lộn xộn. Sau đây là một số ví dụ. Ví dụ 1: Các công ty bảo hiểm có thể đã thực hiện các cam kết về lãi suất cố định. Khi lãi suất giảm, họ có thể không còn lựa chọn nào khác ngoài tìm kiếm các khoản đầu tư có rủi ro hơn - nếu họ giữ lãi thấp nhưng đầu tư an toàn, họ có thể sẽ không trả nợ đúng cam kết của mình, trong khi nếu họ chấp nhận đầu tư rủi ro cao hơn, họ có cơ hội sống sót.
Hiện tượng này, được gọi là chuyển dịch rủi ro (ví dụ, Jensen và Meckling (1976)), có xu hướng khiến cho người tham gia bỏ qua loạt rủi ro giảm (bao gồm cả sự thiếu thanh khoản) vì sự chú ý của họ tập trung vào xu hướng tăng. Tất nhiên, nếu lãi suất phi rủi ro bắt đầu quay trở lại, các công ty bảo hiểm có thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ mà không chấp nhận rủi ro quá mức.