CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÊ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN B 0 1 HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO THANH KHOẢN TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG B 3 1 THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong kinh doanh Ngân B 3 2 hàng thương mại 1. Khái niệm thanh khoản B 2 5 Trong tài chính, thuật ngữ “thanh khoản" được sử dụng trong nhiều phạm vi khác nhau.
Dưới góc độ tài sản, thanh khoản là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách dễ dàng và nhanh chóng với chi phí hợp lí. Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu. Nhưng thuật ngữ này khi được sử dụng dưới góc độ quản trị ngân hàng lại được hiểu là “khả năng của ngân hàng tìm kiếm, sử dụng các nguồn tiền để đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả hoặc cấp tỉn dụng cho khách hàng trong thời kì cụ thể. Khái niệm rủi ro thanh khoản B 3 5 Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu.
Điều này gợi ý rằng, ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay một lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Nếu một NHTM mất khả năng đáp ứng các nhu cầu tiền mặt thì có thể nói NHTM đã rơi vào tình trạng khó khăn thanh toán. Khả năng thanh toán không hợp lý là dấu hiệu đầu tiền cho thấy ngân hàng dang trong tình trạng có vấn đề về tài chính. Ngân hàng không dự trữ đủ tiền để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng là một loại rủi ro đặc trưng và phổ biến của các ngân hàng thương mại - loại rủi ro này được gọi là rủi ro thanh khoản (RRTK).
z 2 Đến nay khi nghiên cứu về thanh khoản, đã có nhiều quan điểm khác nhau về RRTK. Theo tác giả cuốn sách Commercial banking - the management of risk, Benton thì: Rủi ro thanh khoản ỉà rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sàn tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về ton thất phát sinh từ trạng thải thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, bản hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý, nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định. [3] Theo tác giả cuốn sách “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”, Nguyễn Văn Tiến thì: “Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chỉnh một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phỉ cao hoặc phải bán tài sàn với giả trị thấp ”.[6] Như vậy rủi ro thanh khoản có các nội dung sau: Thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu chi trả cho người gửi tiền, thanh toán các khoản nợ đến hạn mà ngân hàng đã vay, như các trái phiếu và các khoản vay của các định chế tài chính khác mà đến hạn thanh toán. Ngoài ra, thiếu ngân quỹ để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận cũng là nội dung của rủi ro thanh khoản.
Thiếu ngân quỹ ở đây có thể là thiếu dự trữ tại ngân hàng, hoặc không thể huy động nguồn ngân quỹ từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngay lập tức. Sự thiếu hụt ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu của các bên đối tác sẽ dẫn đến tổn thất cho ngân hàng, như giảm thu nhập, giảm giá thị trường của vốn. Khi thiếu khả năng chi trả sẽ làm cho ngân hàng mất uy tín trên thị trường, huy động vốn và cho vay của ngân hàng sẽ khó khăn và tất yếu sẽ dẫn đến giảm khả năng sinh lời. Có nhiều cách thể hiện khác nhau về rủi ro thanh khoản, nhưng có thể tựu trung lại và nhìn từ góc độ NHTM, có thể hiểu: Rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sình từ trạng thải mà NHTM không có được đủ vốn khả dụng - cung thanh khoản vào thời điếm mà NHTM cần để đáp ứng cầu thanh khoản, trạng thái này tác động xấu tới uy tín, thu nhập và khả năng thanh toán cuối cùng của NHTM.
RRTK không phải là rủi ro đơn lẻ như rủi ro thị trường hay rủi ro tín dụng mà là loại rủi ro mang tính hệ quả bởi lẽ ngoài các nguyên nhân mang tính đặc thù, RRTK z 3 còn có thể bắt nguồn và chuyển biến xấu dưới tác động của các rủi ro phi tài chính và rủi ro tài chính khác trong hoạt động của ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản B 4 2 Tình trạng khó khăn về thanh khoản của ngân hàng thương mại xuất phát từ những lý do chính sau đây: Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi, quỹ dự trữ từ các cá nhân và các tổ chức tài chính khác, sau đó chuyển hoá thành những tài sản đầu tư có kỳ hạn. Vì vậy, tình trạng mất cân đối về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn xảy ra đối với ngân hàng. Trường hợp hiếm thấy là luồng tiền thu hồi được từ các khoản đầu tư cân bằng chính xác với luồng tiền đang chỉ ra để trang trải cho các nguồn vốn huy động trước đây.
Do sự nhạy cảm đối với sự thay đổi về lãi suất đầu tư, nhất là các khoản tiền gửi. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền có thể trì hoãn yêu câu vay vốn và tích cực tiếp cận các khoản tín dụng có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng cả khách hàng gửi tiền và khách hàng vay tiền và cả hai đều tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưỏng đến giá trị thị trường các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ.
Ngoại trừ hai nhân tố nêu trên, điều cơ bản là các ngân hàng phải đặt một sự ưu tiên cao đối với việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Mất cảnh giác trong khu vực này có thể làm tổn hại nghiêm trọng niềm tin của công chúng vào ngân hàng. Một trong những nhiệm vụ của các nhà quản trị thanh khoản là duy trì mối liên hệ gần gủi với những khách hàng gửi tiền lớn và những khách hàng vay đang nắm giữ hạn mức lớn để xác định có hay không và khi nào rút vốn. Tóm lại, có thể rút ra một số nguyên nhân sâu xa gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng như sau: Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn: Khi tiến hành huy động vốn, không phải lúc nào NHTM cũng huy động được nguồn vốn có kỳ hạn dài.
z 4 Thực tế cho thấy, các nguồn vốn huy động được thưởng có kỳ hạn ngắn, nhưng phần lớn những khoản cho vay và đầu tư lại có kỳ hạn dài hơn. Điều này làm mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các TSC và TSN nên dòng tiền ra bên TSC thưởng không trùng khớp để trang trải dòng tiền vào bên TSN. Vậy nên, NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản. Biến động lãi suất: Khi lãi suất trên thị trường tài chính thay đổi, khách hàng gửi Tiền có xu hướng rút tiền gửi của họ ở NHTM có lãi suất thấp và tìm kiếm NHTM khác có lãi suất huy động cao hơn.
Trong khi đó, những khách hàng có nhu cầu tín dụng sẽ tìm cách trì hoãn việc hoàn trả các khoản nợ đã đáo hạn hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất thấp, tìm cách trả trước hạn hoặc trì hoãn việc rút vốn vay với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất cao. Như vậy, biến động lãi suất đồng thời ảnh hưởng đến cả tiền gửi và tiền vay tức dòng tiền vào, dòng tiền ra và sau đó là đến thanh khoản của NHTM. Tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu thanh khoản: Đối với lĩnh vực kinh doanh khác (không phải kinh doanh tiền tệ, các doanh nghiệp có thể dây dưa nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh.Nhưng với NHTM kinh doanh trong lĩnh vực Tiền tệ hết sức nhạy cảm, NHTM không thể làm như vậy. Bất kỳ một sự trục trặc nào về thanh khoản đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu NHTM không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng gửi Tiền có thể đồng loạt kéo đến ngân hàng để rút tiền, trạng thái thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản.
Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên TSN luôn có một tỷ lệ nhất đinh các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có có thể rút trước hạn. Đây là những TSN mà NHTM có thể nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế NHTM luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Hậu quả của rủi ro thanh khoản B 5 2 Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng, có liên quan đến sự sống còn của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động bình thưởng phải đảm bảo được z 5 khả năng thanh toán trong hiện tại, tương lai, và những nhu cầu thanh toán đột xuất.
Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiện thì không chỉ ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế xã hội.