Chương 1 đề cập đến cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng và Hiệp ước Basel III, đồng thời nêu lên bài học kinh nghiệm của Ấn Độ về ứng dụng Basel III vào quản trị rủi ro thanh khoản. Tiếp đó, chương 2 sẽ khái quát thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam, cũng như thực trạng ứng dụng Hiệp ước Basel III vào quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam. Cuối cùng, chương 3 sẽ đưa ra một số giải pháp ứng dụng Basel III vào quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam. Hƣớng phát triển đề tài: Với một khối lượng lớn văn bản liên quan đến các chuẩn mực và quy tắc trong Hiệp ước Basel III, đồng thời không ngừng đổi mới và cập nhật, thời gian nghiên cứu đề tài vẫn là chưa đủ để có thể tìm hiểu và đưa ra những giải pháp mang tính khả thi cao.
Vì vậy, sau khi hoàn thành đề tài này, tác giả xem như có một bước khởi đầu tương đối thuận lợi tạo cơ sở cho những phần nghiên cứu sâu hơn đối với việc ứng dụng Basel III vào quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu có thể giúp NHNN trong việc xây dựng một quy trình giám sát chặt chẽ và hiệu quả cũng là một hướng có thể thực hiện tiếp theo sau đề tài này. Hy vọng rằng đề tài sẽ tiếp tục được nghiên cứu với thời gian dài hơn và tập trung hơn bao gồm việc phân tích định lượng từng yếu tố trong hệ thống NHTM Việt Nam để có thể xây dựng một mô hình quản trị rủi ro thanh khoản phù hợp nhất với điều kiện của Việt Nam nhưng vẫn hoàn toàn tuân thủ nghiêm ngặt theo thông lệ quốc tế. 123doc 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ HIỆP ƢỚC BASEL III 1.1 Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản: 1.1 Khái niệm thanh khoản: Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008), thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức.
Theo Duttweiler (2009), thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản. Tính thanh khoản có sự khác biệt với khả năng thanh toán của NHTM, đó là tính chất thời điểm.
Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải các khoản chi phí. Tuy nhiên, nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Một ngân hàng có thể mất thanh khoản trong khi vẫn có khả năng thanh toán, hay nói cách khác, vốn là một điều kiện cần nhưng chưa đủ để một ngân hàng đảm bảo khả năng thanh khoản. Tóm lại, thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh (Trần Huy Hoàng, 2011).
Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh.2 Rủi ro thanh khoản: 1.1 Khái niệm: Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả 123doc 6 năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán (Trần Huy Hoàng, 2011). Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ ngân hàng nào là bảo đảm khả năng thanh khoản đầy đủ. Điều này có nghĩa là, ngân hàng hoặc có sẵn lượng vốn khả dụng trong tay, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mượn bên ngoài với chi phí hợp lý và đúng lúc cần đến; hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản ở mức giá thỏa đáng để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh.2 Những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro thanh khoản: Thứ nhất, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó, chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn.
Do đó, đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi trả tiền gửi đến hạn. Thứ hai, do tiền gửi ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đó cả hai tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng.
Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Thứ ba, do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả, các chứng khoản ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của ngân hàng thƣơng mại: Hệ thống NHTM đóng vai trò cơ bản như là người tạo thanh khoản cho nền kinh tế thông qua các hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay, và nhiều hoạt động tài chính khác. Do đó, rủi ro thanh khoản của một ngân hàng sẽ có ảnh hưởng đến cả hệ thống và toàn bộ nền kinh tế. Nghiên cứu về rủi ro của hệ thống ngân hàng cho thấy, tình trạng thiếu hụt tạm thời về thanh khoản có thể dẫn đến thanh khoản của ngân hàng nhanh chóng cạn kiệt và ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả.
Khi đó, việc hỗ trợ thanh khoản của NHTW cho các ngân hàng này sẽ làm tăng thêm rủi ro hệ thống và tăng chi phí cứu trợ. Đối với một ngân hàng, rủi ro thanh khoản có nguy cơ làm giảm uy tín của ngân hàng đó và đặc biệt nghiêm trọng khi các thông tin bị rò rỉ ra bên ngoài. Do bất cân xứng thông tin trong các giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng, khi các biểu hiện về thanh khoản xuất hiện sẽ nhanh chóng dẫn đến hiện tượng khách hàng rút tiền hàng loạt để bảo toàn vốn. Điều này sẽ làm cho các ngân hàng trở nên cạn kiệt về thanh khoản, và thậm chí buộc phải đóng cửa.
Trong trường hợp xảy ra rủi ro thanh khoản, các ngân hàng thường lựa chọn các giải pháp hoặc là nâng mức lãi suất cao để huy động thêm vốn, hoặc thu hồi hoặc hạn chế các khoản cho vay mới, hoặc bán tài sản để chuyển sang tiền mặt. Tuy nhiên, khi các ngân hàng đều cố gắng sử dụng các giải pháp cùng lúc với nhau sẽ không đạt được hiệu quả, chẳng hạn như việc thắt chặt tín dụng hoặc bán các loại tài sản thế chấp để thu hồi nợ sẽ làm tài sản bị giảm giá do đó càng làm tăng rủi ro tín dụng và tình trạng căng thẳng thanh khoản sẽ lan rộng ra thị trường. Rủi ro thanh khoản của ngân hàng có hiệu ứng lan truyền và gây đỗ vỡ trong toàn hệ thống do các ngân hàng thường thực hiện các khoản vay mượn lẫn nhau. Khi một ngân hàng không đủ khả năng chi trả các khoản vay nợ, sẽ làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và từ đó kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống.3 Quản trị rủi ro thanh khoản: 1.1 Khái niệm: Quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản của tài sản và cấu trúc danh mục của nguồn vốn (Trần Huy Hoàng, 2011).
Bản chất của công tác quản trị thanh khoản trong ngân hàng có thể đúc kết ở hai nội dung sau: Một là, hiếm khi nào tại một thời điểm tổng cung bằng với tổng cầu thanh khoản. Do đó, ngân hàng phải thường xuyên đối phó với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản. Hai là, thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau: Một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lời của nó sẽ càng thấp và ngược lại; một nguồn vốn có tính thanh khoản cao thường có chi phí huy động vốn lớn (nên làm giảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay).2 Các phƣơng pháp quản lý rủi ro thanh khoản: Theo Trần Huy Hoàng (2011), ta có các phương pháp quản lý rủi ro thanh khoản sau: – Duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa vốn dùng cho dự trữ và vốn dùng cho kinh doanh sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng. – Chú trọng yếu tố thời gian của vấn đề thanh khoản, bao gồm ngắn hạn và dài hạn.
Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn, đòi hỏi ngân hàng phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong dài hạn, đòi hỏi ngân hàng phải dự phòng trước khả năng cung cấp vốn từ nhiều nguồn khác nhau và ở mức độ cao hơn so với nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn. – Đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả. Tài sản có có thể thanh toán ngay Tỷ lệ về khả năng chi trả = Tài sản nợ phải thanh toán ngay Tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đối với từng loại tiền, vàng như sau: 123doc 9 Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản có thanh toán ngay và tổng nợ phải trả.