MỞ ĐẦU Tính cấp thiết Hệ thống các ngân hàng Việt Nam, trong hơn 25 năm đổi mới, kể từ những năm 80 của thế kỷ trƣớc đến nay, đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới và phát triển của nền kinh tế thị trƣờng. Từ một hệ thống ngân hàng một cấp thực hiện cả chức năng ngân hàng thƣơng mại và chức năng ngân hàng trung ƣơng, đến nay hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đƣợc tổ chức thành hệ thống ngân hàng 2 cấp với sự tách bạch chức năng ng ân hàng trung ƣơng với chức năng ngân hàng thƣơng mại. Hệ thống ngân hàng thƣơng mại từ chỗ ban đầu chỉ 4 ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc với quy mô tài chính và dịch vụ nhỏ bé, đến nay hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Nam khá đa dạng bao gồm 1 ngân hàng phát triển, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 5 ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc và ngân hàng thƣơng mại có cổ phần chi phối của Nhà nƣớc, 35 ngân hàng thƣơng mại cổ phần (NHTMCP), 50 chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, 5 ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 18 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ƣơng, hơn 1.000 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và 1 tổ chức tài chính vi mô. Năng lực tài chính và quy mô hoạt động của các ngân hàng tăng trƣởng nhanh.
Năm 2000 Vốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam khoảng hơn 7 ngàn tỷ đồng, tổng tài sản đạt hơn 140 ngàn tỷ. Đến cuối năm 2011, vốn điều lệ lên tới 307 ngàn tỷ đồng, tăng gấp 44 lần so với năm 2000, trong đó khối ngân hàng thƣơng mại cổ phần tăng trƣởng nhanh nhất. Về tổng tài sản năm 2011 đạt hơn 4,95 triệu tỷ đồng tăng gấp 35 lần so năm 2000. Tổng dƣ nợ tín dụng cho nền kinh tế tăng trƣởng bình quân 30%/năm trong giai đoạn từ 2005 – 2011 và đến cuối năm 2011 tƣơng đƣơng khoảng 124%GDP.
Để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, hệ thống các ngân hàng đã huy động một khối lƣợng vốn lớn. Tính đến cuối năm 2011 tổng vốn huy động từ nền kinh tế đạt hơn 2,9 triệu tỷ đồng gấp gần 5 lần năm 2005 và gấp 8 lần vốn điều lệ của toàn hệ thống các ngân hàng. 1 Luan van Năng lực cạnh tranh và cung ứng dịch vụ ngân hàng ngày càng đƣợc cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế. Hệ thống công nghệ và quản trị ngân hàng đang từng bƣớc đổi mới theo thông lệ quốc tế.
Dịch vụ ngân hàng không chỉ giới hạn trong phạm vi huy động và cấp tín dụng mà ngày càng có nhiều loại hình dịch vụ hiện đại và phổ thông nhƣ dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử, kinh doanh ngoại hối, hoạt động đầu tƣ… Mạng lƣới rộng khắp đã tạo điều kiện cho dân cƣ và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thuận lợi các dịch vụ ngân hàng. Trong những năm qua, hệ thống các ngân hàng Việt Nam phát triển nhanh và góp phần quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Tuy nhiên hệ thống các ngân hàng Việt Nam cũng ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém, rủi ro trƣớc những biến động của kinh tế thế giới, gây mất an toàn hoạt động và đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ mô. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng rất lớn, đặc biệt rủi ro tín dụng.
Tín dụng cho nền kinh tế tăng nhanh nhƣng chất lƣợng tín dụng của các ngân hàng rất thấp. Đến cuối năm 2011 nợ xấu của toàn hệ thống là 78.898 tỷ đồng tƣơng đƣơng 3,03% tổng dƣ nợ cho nền kinh tế, nợ nhóm 2 là 182.828 tỷ đồng tƣơng đƣơng 7% tổng dƣ nợ cho nền kinh tế. Tuy nhiên nếu theo số liệu giám sát đến cuối tháng 06/2011 của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng hiện nay là 6,62% tổng dƣ nợ tín dụng. Nếu phân loại nợ theo chuẩn mực quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD Việt Nam có thể lên tới 2 chữ số (tổ chức xếp hạng Fitch Rating đánh giá ở mức 13%).
Hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém, chất lƣợng tài sản thấp, tính thanh khoản yếu trƣớc nền kinh tế bị suy thoái. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng Việt Nam có nguy cơ ảnh hƣởng sự an toàn của hoạt động kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy Nghị quyết 01 của Chính phủ đã nhấn mạnh một trong các giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành kế hoạch phát triển từ 2011 – 2015 là cần phải tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng, trọng tâm là các ngân hàng thƣơng mại. Do đó, việc nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống các nguyên nhân tác động đến rủi ro tín dụng đối với hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – nay để tìm ra giải pháp nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng 2 Luan van của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, tôi chọn đề tài: “Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu của mình. Vấn đề - Mục tiêu nghiên cứu Nằm ở vị trí Đông Nam Á, Việt Nam đƣợc biết đến nhƣ một nền kinh tế mới nổi với tốc độ tăng trƣởng kinh tế khá cao và dòng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài lớn trong những năm gần đây. Thêm vào đó Việt Nam đang chuyển tiếp từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, từng bƣớc hội nhập dần với kinh tế toàn cầu để tự do hóa tài chính và đã trở thành thành viên của một số tổ chức quốc tế nhƣ ASIAN năm 1995, APEC năm 1998 và Tổ chức Thƣơng mại Thế giới vào đầu năm 2007. Cuộc khủng hoảng ngân hàng đã trở thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong những năm gần đây là do những yếu tố chủ chốt về vấn quản lý yếu kém trong kiểm soát rủi ro và Việt Nam cũng không loại trừ.
Vấn đề đặt ra Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi, liệu các yếu tố tác động đến khủng hoảng nợ xấu của ngân hàng có giống nhƣ mô hình rủi ro của các nền kinh tế mới nổi hay không? Trên cơ sở lý thuyết thực nghiệm trên các nền kinh tế chuyển tiếp, tác giả muốn đƣa vào ứng dụng các mô hình quản trị hiệu quả cho hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Với những vấn đề nghiên cứu trên, có một số câu hỏi nghiên cứu nhƣ sau: 1. Những yếu tố nào ảnh hƣởng chất lƣợng tín dụng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Xây mô hình quản trị rủi ro tín dụng nào phù hợp với các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam.
3 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Tổng quan về cơ sở lý thuyết 1.1 Hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế chuyển tiếp Hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế chuyển tiếp đã trở thành một đề tài quan tâm bởi vì trong thời kỳ dƣới chế độ kế hoạch tập trung, ngân hàng hầu hết thất bại trong việc thực hiện các chức năng cơ bản của mình. Trong thời kỳ cũ, trung gian tài chính chỉ tồn tại một vài cấu trúc nội tại trong phạm vi hệ thống ngân hàng tập trung. Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng hầu nhƣ chƣa phát sinh. Hệ thống hoạt động ngân hàng ở các nền kinh tế chuyển tiếp bắt đầu đƣợc tổ chức thành hệ thống ngân hàng 2 cấp với sự tách bạch chức năng ngân hàng trung ƣơng với chức năng ngân hàng thƣơng mại.
Hệ thống ngân hàng thƣơng mại ban đầu là những ngân hàng thuộc sở hữu quốc doanh. Sau này hệ thống ngân hàng thƣơng mại bao gồm những ngân hàng quốc doanh chuyển đổi sang tƣ nhân và những ngân hàng tƣ nhân mới thành lập. Khuôn mẫu luật pháp mỗi nƣớc liên quan đến tổ chức và giám sát ngân hàng cho phép dần các hoạt động quốc tế cũng nhƣ chuyển qua tự do tài chính hoàn toàn. Đặc điểm của các nền kinh tế chuyển tiếp là họ vẫn còn ở mức thấp, nhƣ một số nƣớc thành viên của Liên bang Xô Viết trƣớc đây hoặc ở mức độ cao với sự ảnh hƣởng mạnh mẽ của lãi suất trên sự phân phối tín dụng đƣợc tìm thấy ở khu vực Đông Âu và Nga.
Ở mức độ cao hơn nhƣ ở các nƣớc Croatia, Czech, Estonia và Hungary, hệ thống ngân hàng có nền tƣ bản cao lâu dài với nhiều quy định kiểm toán và giám sát, thiết lập ngân hàng tƣ nhân và tự do hoàn toàn về lãi suất (Bonin, Hasa and Wachtel). Ngân hàng tƣ nhân thƣờng có số đông cổ phần là của nhà nƣớc, nhƣng sau này lại nắm nhiều tài sản lớn hơn và chiếm thị phần tiền gửi hơn. Tuy nhiên, việc thiết lập khuôn mẫu pháp lý cho việc giám sát dựa trên nguyên tắc thị trƣờng thì không hƣớng dẫn nhất định trở thành một hệ thống ngân hàng hoạt động đúng chuẩn. 4 Luan van Đặc trƣng phổ biến của hệ thống ngân hàng trong các nền kinh tế chuyển tiếp là nợ xấu khác thƣờng và rủi ro tín dụng, hoạt động tín dụng thiếu hiệu quả, và yếu kém về ngoại hối và vấn đề thanh khoản (Gorton and Winton, 1998).
Hiệu quả của các ngân hàng từ lâu đã là một trọng tâm của nghiên cứu ngân hàng. Sự giảm sút chất lƣợng tín dụng ngày càng gia tăng là do môi trƣờng tiền tệ chủ yếu và sự đi xuống chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (Michel D. Bordo 2006), do tự do tài chính và mở rộng tín dụng (Puspa Amri, Apanard P. Theo kinh nghiệm, cuộc khủng hoảng ngân hàng thƣờng tập trung vào một trong hai khía cạnh: các tín hiệu cảnh báo sớm, yếu tố giải thích cuộc khủng hoảng ngân hàng.
Các tín hiệu thƣờng là các chỉ số của hoạt động kinh tế vĩ mô nhƣ mở rộng tín dụng, thƣờng tƣơng tác với các chỉ số "mong manh tài chính". Mong manh cao ngụ ý rằng hệ thống ngân hàng dễ gặp khủng hoảng đối ứng tƣơng quan suy thoái kinh tế hoặc những cú sốc bên ngoài (Kaminsky và Reinhart, 1999).