CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Hệ thống Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về hệ thống Ngân hàng thương mại Theo khoan 3 Điều 4 Luật Các tô chức tín dụng năm 2010, Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện mọi hoạt động ngân hàng và hoạt động thương mại khác theo quy định vì lợi nhuận. Ân Độ: NHTM là cơ sở cho vay hay tài trợ đầu tư thông qua việc nhận ký thác. Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh với sản phẩm là tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính hay các hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Thô Nhĩ Kỳ: NHTM được xem là hội trách nhiệm hữu hạn nhận tiền ký thác đê thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, nghiẹp vụ hổi đoái và các hình thức vay mượn.
NHTM là tô chức tài chính trung gian, chiếm vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế. Đây là một loại hình kinh doanh liên doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Quy định về Ngân hàng cùa Hội đồng Nhà mrớc ngày 23 tháng 5 năm 1990 nêu rõ: “Ngân hàng thương mại là một tô chức kinh doanh tài chính với hoạt động thường xuyên chính là nhận tiền gửi của khách hàng, hoàn trả số tiền gửi đó và chuyên sổ tiền gửi đó tới Ngân hàng đê sừ dụng cho mục đích "tài trợ", việc thực hiện các giao dịch chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Nhir vậy, các NHTM đóng vai trò là trung gian tài chính, vay và cho vay, thu lợi nhuận từ chênh lệch ghìa lãi suất cho vay và lãi suất huy động.
Mặc dù các tô chức tài chính trung gian khác có chức năng tương tự nhưng thực chất chúng là một loại hình công ty dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, các NHTM vẫn cần được phần loại vào một nhóm riêng vì nlữrng lý do rất cụ thê. Vì chức năng huy động vốn thông qua việc phát hành tiền giấy. Ngoài ra, lượng tiền gửi, và theo đó là tiền gửi séc hoặc tiền gửi không kỳ hạn, có thê được tạo ra cũng là một phần quan trọng trong tông cung tiền trong nền kinh tế NHTM có các đặc diêm sau: NHTM là tô chức tài chính trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngần hàng.
1 Hoạt động đa dịch vụ, đa ngành nghề trong đó hoạt động kinh doanh chính là ngân hàng. Nó huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi và phát hành trái phiếu và nhiều chứng khoán có giá trị khác. Nguồn vốn này được sử dụng cho vay tiêu dùng, hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ như chuyên tiền, thanh toán, ký quỹ và bảo lãnh.
Hệ thống ngân hàng thương mại có thê tạo ra lượng tiền lớn nhờ hoạt động cho vay và thanh toán. Nó là một phần quan trọng trong nguồn cung tiền của nền kinh tế và ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.2 Các loại hình NHTM Căn cứ vào loại hình sờ hữu, ngân hàng thương mại được phân loại là ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cô phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng ưr nhân, cốt lõi. Ngân hàng thương mại nhà nước: ngân hàng được thành lập ư'r nguồn vốn ngân sách nhà mrớc và đại diện cho các trụ cột cùa nền kinh tế. ơ Việt Nam, các ngân hàng này ban đầu là ngân hàng chuyên doanh nhưng đã đôi tên vào năm 1992 đê trờ thành ngân hàng thương mại đa năng.
Ngân hàng Thương mại Cô phần: Là ngân hàng đa năng được thành lập bằng vốn đầu ưi của các cô đông. Hệ thống ngân hàng thương mại cô phần có hai loại hình: ngân hàng thương mại cô phần thành thị và ngân hàng thương mại cô phần nông thôn. Hiện nay, tất cả các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đều là ngân hàng cô phần và có đầy đủ năng lực thực hiện các hoạt động ngần hàng. Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng do các bên liên doanh góp vốn và tỷ lệ góp cùa bên nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ.
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Là ngần hàng được thành lập theo pháp luật Việt Nam, do chủ sờ hữu nước ngoài cung cấp 100% vốn. Có quyền cung cấp các dịch vụ ngân hàng toàn diện cho thị trường Việt Nam với thời hạn hoạt động là trong vòng 99 năm.1: Danh dách các loại hình NHTM tính đến ngày 30/06/2023 Loại hình ngân hàng Số lượng NHTM Nhà nước 4 NHTM Cổ phần 31 Ngân hàng 100% vốn mĩớc ngoài 9 Ngân hàng liên doanh 2 1.3 Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng, tập tiling nguồn vốn cho nền kinh tế: Trong một nền kinh tế, việc có những đổi tượng thừa tiền nhưng số tiền này chưa được sử dụng hết (ví dụ vần giữ trong nhà, chưa hoặc không được sử dụng) là điều dề nhận thấy ờ đa số người dân Việt Nam, nhưng họ cũng muốn sổ tiền này mang lại lợi nhuận cho họ và họ cho rằng khoản tiền đó là khoản cho vay và có những người cần khoản tiền đó đê kinh doanh. Nhưng các đổi tượng này không biết nhau và không thê tin ưrờng nhau nên các khoản tiền đó vần là khoản tiền nhàn rỗi. Các NHTM với vai trò trung gian nhận tiền từ người có nhu cầu cho vay, trả lãi và đưa số tiền này cho người có nhu cầu vay tiền, từ đó trờ thành cầu nối giữa người thìra vốn và người có nhu cầu vốn.
Chức năng trung gian thanh toán: Chức năng này có nghĩa là ngân hàng nhận và gửi tiền vào tài khoản hoặc chuyên tiền theo lệnh cùa chủ tài khoản. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ không chi được đảm bảo có thê cất ghì tiền một cách an toàn còn có thê thực hiện các giao dịch nhận và thanh toán nhanh chóng, dề dàng, đặc biệt đối với các khoản thanh toán có giá trị cao ờ mọi nơi. Một phương pháp mà nếu khách hàng ựr làm thì sẽ rất tổn kém, khó khăn và nguy hiêm. Chức năng cung cấp dịch vụ tài chính: Sự ra đời và phát triên của thị trường tài chính đã tạo điều kiện cho các NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng cho thị trường.
Dựa trên lợi thế về thông tin thị trường và khả năng thu thập, phân tích thông tin nhạy cảm, cơ sở vật chất hiện đại và đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, NHTM cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính đa dạng như tư vấn tài chính, môi giới tài chính.2 Hiệu quả hoạt động 1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động Hiệu quả hoạt động được đo lường dựa trên hiệu quả lợi nhuận kiếm được từ hoạt động kinh doanh dưới dạng một hàm của chi phí hoạt động. Ngân hàng có thê tạo ra lợi nhuận hay thu nhập cao hơn với cùng một mức chi phí hoặc thấp hơn thì hiệu quả hoạt động sẽ cao hơn, điều này cho thấy ngân hàng đang kinh doanh hiệu quả, các khoản đầu ưr càng có lợi.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động 1.1 Lợi nhuận ròng trên tong tài sản - ROA Lợi nhuận ròng trên tông tài sản (ROA) là chỉ số thê hiện ưrơng quan giữa mức sinh lời cùa ngân hàng trong việc sử dụng tài sản đê tạo ra lợi nhuận. Công thức: RO A = Lợi nhuận sau thuế / Tông tài sản Chi sổ ROA thê hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng tài sản của ngần hàng. Cho thấy được ngân hàng kiếm được bao nhiêu tiền lãi trên 1 đồng tài sản bò ra.
ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản àng có hiệu quả.2 Lọi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu - ROE Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chù sổ đo lường khả năng sinh lời của một khoản đầu ưr trên mỗi đồng vốn bò ra. Công thức: ROE = Lợi nhuận sau thuế/ vốn chủ sờ hữu Chi số ROE cho thấy 1 đong vốn chù sờ hữu mà ngân hàng bỏ ra sẽ thu về được bao nhiêu lợi nhuận. ROE càng cao càng thê hiện hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng.3 Biên lãi ròng - NIM Biên lãi ròng (NIM) là là chỉ sổ phản ánh số tiền mà một ngân hàng thu được tò lãi của các khoản cho vay với số tiền mà ngân hàng đang trả lãi cho các khoản tiền gửi cùa khách hàng. Chi so NIM giúp đánh giá khả năng sinh lời và tăng trường của một ngân hàng.
Công thức: NIM = Thu nhập lãi ròng/ Tông tài sản có sinh lời 4 1.1 Khái niệm về biên lãi ròng Biên lãi ròng hay còn được gọi là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) được các ngân hàng định nghĩa là sự chênh lệch gnra thu nhập lãi thuần cho tông tài sản có sinh lời. Biên độ sẽ được tính theo một khoảng thời gian, một quý hay một năm, và được thê hiện bằng một tỳ lệ phần trăm (Golin, 2001). Nghiên cứu trước đây về NIM lần đầu tiên được thực hiện bời Ho & Saunder (1981), sau đó là Angbazo (1997) và Saunder & Schumacher (2000) tiếp tục phát triên hướng nghiên cứu này và tìm kiếm các yếu tố ânh hưởng den NIM. những nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên círu liên quan đến NI. Theo định nghĩa của Ho & Saunder (1981): Tỷ suất thu nhập lãi cận biên là thước đo sự chênh lệch giữa lợi nhuận từ lãi mà ngân hàng tạo ra và số lãi phải trả cho người cho vay là tiền gửi của khách hàng, là chi phí phải trả cho người cho vay. thực thê trong kinh tế học ngân hàng đầu ưr. Bằng cách xác định tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cùa ngân hàng, ngân hàng sẽ tính toán, đánh giá tỳ lệ lợi nhuận chênh lệch lãi suất giữa khai thác vốn kinh tế (huy động vốn) và đầu tư tín dụng.
NIM = Thu nhập ìài thuần/ Tông tài sản có sinh ìời Trong đó: Thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi. Tông tài sản có sinh lời là những khoản tiền gửi tại ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNNVN), tiền gửi tại các tô chức tín dụng khác (TCTD), chírng khoán đầu tư và các khoản cho vay khách hàng. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng là dương thê hiện hoạt động đầu ưr của ngần hàng có hiệu quả, từ đó cũng có thê đánh giá hiệu quả quản lý, xữ lý tài sản của ngân hàng cũng như việc quản lý nợ họp lý của ngân hàng thương mại. Mặt khác, nếu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên âm chứng tò ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc tạo thu nhập ư'r đầu tư.