chương 1, tác giả đã trình bày khái quát về đề tài nghiên cứu cũng như lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp sử dụng và đóng góp của nghiên cứu. Từ đó giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về bài luận văn này. Cấu trúc sở hữu là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của các NHTM. Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày bài nghiên cứu này ở các chương tiếp theo, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cho các NHTM niêm yết ở Việt Nam.
8 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2. KHÁI QUÁT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NHTM Khái niệm về cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu của một ngân hàng liên quan chặt chẽ đến vấn đề giá trị vốn chủ sở hữu, tức là giá trị tài sản mà các chủ sở hữu đã đầu tư vào ngân hàng. (2005) cấu trúc sở hữu liên quan đến tỷ lệ sở hữu của các cổ đông trong việc quyết định về quyền biểu quyết, đóng góp vốn và các đặc tính khác của cổ đông. Một khái niệm khác về cấu trúc sở hữu của Camisón-Haba, Clemente, Forés và Grueso-Gala (2020) cho rằng cấu trúc sở hữu là cơ cấu nội bộ của một công ty xác định các quyền và nghĩa vụ của những người có lợi ích hợp pháp hoặc cổ phần trong đó.
Ban đầu, góc nhìn về việc xác định cấu trúc sở hữu đã bao gồm một loạt các hình thức vốn chủ sở hữu đa dạng như cổ phiếu loại A, cổ phiếu loại B, cổ phiếu đang lưu hành hoặc có khả năng chuyển đổi, và nhiều hình thức khác (Howard & cộng sự, 1953). Cấu trúc sở hữu được chia thành các đối tượng quyền sở hữu khác nhau, bao gồm cổ phần pháp nhân thuộc sở hữu của Nhà nước, cổ phần Nhà nước, cổ phần pháp nhân, và nhiều loại khác. Phân tích cấu trúc sở hữu nhằm xác định mức độ tập trung của quyền sở hữu và các đặc điểm liên quan đến quyền sở hữu. Theo Fazlzadeh (2011) cấu trúc sở hữu có thể được đánh giá dựa trên hai khía cạnh.
Đầu tiên, mức độ tập trung của quyền sở hữu có thể được chia thành sở hữu tập trung hoặc sở hữu phân tán. Quyền sở hữu tập trung được định nghĩa bởi việc các cổ đông nắm giữ số lượng cổ phiếu lớn nhất, đi kèm với quyền kiểm soát và quyền biểu quyết cao nhất. Đồng thời, họ cũng chịu tác động lớn từ rủi ro và chi phí giám sát (Pedersen, 1999). Cấu trúc sở hữu cá nhân thường được xem là hệ thống nội bộ vì nó có hững đặc điểm của quyền sở hữu thuộc về một cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức.
Do đó, họ 9 còn sở hữu lượng lớn vốn cổ phần trong công ty và được coi là cơ chế nội bộ. Bên cạnh đó, quyền kiểm soát trực tiếp sẽ thuộc về những cổ đông lớn như giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị,.những cổ đông thiểu số sẽ không thể tác động vào các quyết định quan trọng dù cho họ có quyền biểu quyết. Do công ty được kiểm soát bởi những người trong nội bộ nên họ có quyền lực và kiểm soát công ty một cách chặt chẽ. Chính vì điều đó họ sẽ không ủng hộ những quyết định tăng cường hiệu quả hoạt động đồng tư trong ngắn hạn mà sẽ chú trọng vào những quyết định mang lợi lợi ích lâu dài.
Cấu trúc sở hữu phân tán được đặc trưng bởi sự tham gia của nhiều cổ đông sở hữu số lượng cổ phần nhỏ, tuy nhiên quyền kiểm soát lại nằm ở tay ban Giám đốc. Do mức vốn góp hạn chế nên việc giám sát chặt chẽ hoạt động công ty đối với các cổ đông nhỏ là không cần thiết và họ cũng không có mong muốn tham gia vào việc điều hành công ty. Do đó, họ được xem như bên ngoài hệ thống và cấu trúc phân tán này được gọi là hệ thống bên ngoài. Tuy vậy, nhược điểm của hệ thống này là các cổ đông nhỏ có ít động lực tham gia vào quản lý công ty, dễ dàng thoái vốn và có xu hướng ủng hộ các quyết định mang lại lợi ích ngắn hạn.
Theo Duy Bắc (2023), Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP. HCM (mã chứng khoán CII) không thể tiến hành họp đại hội cổ đông trong lần tổ chức đầu tiên, do không đủ tỷ lệ cổ đông tham gia theo quy định. Công ty cổ phần Đầu tư LDG (mã chứng khoán LDG) cũng liên tục không thể tổ chức đại hội cổ đông trong 3 năm liên tiếp. Thứ hai, theo Repei (2000) cấu trúc sở hữu có thể được phân loại dựa trên mức độ tập trung của quyền sở hữu và sự sở hữu nội bộ hoặc ngoại vi.
Chủ sở hữu bên ngoài là cá nhân, tổ chức hay Nhà nước. Chủ sở hữu bên trong là người quản lý và nhân viên. Ngoài ra, chủ sở hữu còn được phân biệt chủ sở hữu trong nước hay nước ngoài. Bên cạnh đó, Iannotta (2007) còn đề cập đến vấn đề quyền sở hữu hỗn hợp: sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu nước ngoài.
Nhìn chung, có một vài cách phân loại như sau: 10 Bảng 2.1 Phân loại cấu trúc sở hữu Theo trạng thái pháp lý của chủ sở CSH là pháp nhân hữu CSH không phải là pháp nhân Theo mức độ tập trung của quyền Sở hữu tập trung sở hữu Sở hữu phân tán Theo thành phần kinh tế Sở hữu Nhà nước Sở hữu tư nhân Theo yếu tố địa lý Sở hữu trong nước Sở hữu nước ngoài Theo mục tiêu kinh tế của CSH Vì mục tiêu cổ tức và lợi ích hiện tại Vì mục tiêu tăng giá trị vốn đầu tư, giá trị cổ phiếu lâu dài Theo vai trò quản lý và quản trị của CSH không tham gia quản lý và quản CSH trong DN trị CSH tham gia quản lý và quản trị Theo tỷ lệ nắm giữ Cổ đông lớn Cổ đông thiểu số (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Trong phạm vi bài nghiên cứu tác giả tập trung vào nghiên cứu hai loại sở hữu chính có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam là sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài. Khái niệm về hiệu quả tài chính Trong tài chính, khi nhắc đến hiệu quảthì ta sẽ nghĩ ngay đến lợi nhuận hay đó chính là kết quả của một quá trình. Hiệu quả được xem như là sự tương quan giữa kết quả đem lại và toàn bộ chi phí phải bỏ ra để hoàn thành kết quả đề ra ban đầu, thể 11 hiện được chất lượng của quá trình hoạt động, năng lực quản trị. Hoạt động tài chính của ngân hàng là hoạt động kinh doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế.
Kết quả quá trình hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường và nhận xét dựa trên các góc nhìn khác nhau. Dưới góc độ tài chính của ngân hàng thì đó chính là hiệu quả tài chính. Hay nói cách khác hiệu quả tài chính là khả năng đạt được những mục tiêu đã đề ra để nâng cao lợi nhuận dựa trên nguồn lực sẵn có về tài sản và vốn. Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), về lý thuyết hệ thống trong hoạt động tài chính của các NHTM có thể được đánh giá từ hai phía như sau: thứ nhất chính là khả năng biến chuyển đầu vào và đầu ra hoặc giảm chi phí để tăng khả năng cạnh tranh, thứ hai đó là về rủi ro hoạt động của ngân hàng.
Theo Ahanasoglou và các tác giả (2005) thì hiệu quả tài chính của các ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ ổn định của một hệ thống nền kinh tế, đặc biệt là trong gian đoạn suy thoái. Có thể nói rằng hiệu quả tài chính của các ngân hàng luôn gắn liền với sự tăng trưởng của hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia. Vì vậy cần có nhiều hơn nữa các nghiên cứu hay phân tích về hiệu quả tài chính để nhanh chóng tìm ra được những lỗ hỏng từ đó sớm tìm được biện pháp khắc phục để gia tăng sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, lợi nhuận là thước đo hiệu quả hoạt động một ngân hàng.
Để xem xét hiệu quả tài chính phản ánh lợi nhuận thu được trên phần vốn bỏ ra ban đầu. Vì vậy, tác giả tiếp cận theo hướng có ưu điểm là mục đích cuối cùng của các công ty là lợi nhuận. Tuy nhiên lại có nhược điểm là chỉ tính đến nguồn vốn đầu tư ban đầu mà bỏ qua các nguồn lực khác đã sử dụng. Các chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả hoạt động theo hướng tiếp cận này thường là các chỉ số lợi nhuận như: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM).
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính Khi đề cập đến hiệu quả tài chính của một ngân hàng, các chỉ tiêu sau thường được sử dụng: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi thuần,.Tuy nhiên, tác giả lựa chọn tỷ lệ ROA, NIM để đo lường 12 hiệu quả tài chính của NHTM vì hai chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ ngân hàng hoạt động có hiệu quả. • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On total Asset – ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là tỷ số tài chính cho biết ngân hàng tạo ra đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ một đồng tài sản. ROA thấp là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không hiệu quả hoặc chí phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao phản ánh ngân hàng sử dụng một cơ cấu tài sản hợp lý, chính sách kinh doanh và đầu tư tài sản hiệu quả.
Lợi nhuận sau thuế ROA = (2.1) Tổng nguồn vốn • Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) Là một chỉ số tài chính mô tả tỷ lệ giữa lợi nhuận được công ty kiếm được và tổng số vốn mà cổ đông đã đầu tư. ROE đại diện cho mục tiêu mà các cổ đông mong muốn đạt được từ khoản đầu tư của họ. Nó cho thấy khả năng của một công ty tạo ra lợi nhuận từ vốn chủ sở hữu và có khả năng sinh lời nội bộ. Chính vì điều vậy mà ROE càng cao thì sẽ tạo ra lợi nhuận càng tốt.
Hay nói cách khác ROE thể hiện tỷ lệ lợi nhuận thu được từ các khoản tiền đầu tư vào ngân hàng bởi các cổ đông của nó.