CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu đi trước QTLN là một vấn đề nóng hổi trong suốt một thời gian dài, những nghiên cứu đặt nền móng về QTLN nói chung và các dấu hiệu của việc thực hiện QTLN cũng như việc ngăn chặn QTLN đã được bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 20 (Paul M Healy, 1985; Paul M. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ chế quản trị công ty và hành vi QTLN cũng được xuất hiện rất sớm từ đầu năm 2000 (Park & Shin, 2004; Pope, Peasnell, & Young, 1998; Xie, Davidson, & DaDalt, 2003). Được quan tâm là vậy, tuy nhiên các nghiên cứu về mối liên hệ giữa vai trò của nữ giới trong HĐQT và hành vi ĐCLN chỉ được xuất hiện kể từ những năm 2010. Để cung cấp một cái nhìn tổng quan về ảnh hưởng của đa dạng giới trong HĐQT và hành vi ĐCLN, tác giả đã tiến hành lược khảo hơn 49 nghiên cứu liên quan trực tiếp tới chủ đề nghiên cứu trong giai đoạn 2010 – 2021.
Để có thể lựa chọn được 49 nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp của Tranfield, Denyer, and Smart (2003). Cụ thể các bước thực hiện lựa chọn các tài liệu lược khảo như sau: Bước đầu tiên là xác định các nguồn/cơ sở dữ liệu khác nhau mà từ đó người viết có thể lấy mẫu các nghiên cứu về đa dạng giới trong HĐQT và hành vi QTLN. Nhằm đảm bảo chất lượng các nghiên cứu được lựa chọn và phục vụ cho quá trình lược khảo, tác giả sử dụng ba cơ sở dữ liệu phổ biến và được sử dụng rộng rãi là “Google scholar”, “Web of science” và “Scopus” theo đề xuất của T. Nguyen, Ntim, and Malagila (2020).
Việc sử dụng nhiều cơ sở dữ liệu có để đảm bảo rằng tác giả có thể thu thập được nhiều nghiên cứu nhất liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu. Mỗi cơ sở dữ liệu có thể không chứa đựng một số nghiên cứu cần thiết, việc kết hợp cả ba cơ sở dữ liệu sẽ giúp tác giả tập hợp được số lượng nghiên cứu đủ lớn bằng cách so sánh, đối chiếu và bổ sung những gì còn thiếu trong mỗi cơ sở dữ liệu với nhau (Iowa State University, 2019; Martín-Martín, Orduna-Malea, Thelwall, & Delgado López-Cózar, 2018). Tiếp theo, tác giả tiến hành lựa chọn các từ khóa liên quan đến chủ đề nghiên cứu nhằm thu thập hết các nghiên cứu đã có. Đối với hành vi QTLN, tác giả sử dụng các từ khóa khác 10 nhau như: “Earnings management”, “Earnings manipulation”, “Earnings accruals”, “Accruals earnings management”, “Real earnings management”,… Bên cạnh đó, các từ khóa được sử dụng về đa dạng giới trong HĐQT bao gồm: “Women”, “female”, “gender”, “board characteristic”, “gender diversity board”, “female directors”, “women in top management team”,… Sau khi kết hợp các tổ hợp từ khóa có thể có, tác giả lần lượt sử dụng cho ba cở sở dữ liệu “Google scholar”, “Web of science” và “Scopus”.
Để đảm bảo tính nhất quán và chất lượng của các tài liệu được lược khảo, người viết chỉ lựa chọn các nghiên cứu là các bài báo khoa học (Journal article) được đăng tải trên các tạp chí có uy tín thuộc danh mục ISI hay Scopus. Số lượng các nghiên cứu ban đầu sau khi kết hợp các tổ hợp từ khóa là 950. Tiếp theo, tác giả tiếp tục loại bỏ các nghiên cứu không liên quan đến vấn đề nghiên cứu thông qua các thành phần của nghiên cứu như tiêu đề, từ khóa, phần tóm tắt (abstract) (Christoffersen, 2013; López-Duarte, Vidal-Suárez, & González-Díaz, 2016; Tranfield et al. Ngoài ra, tác giả chỉ lựa chọn các nghiên cứu mà sự đa dạng giới trong HĐQT đóng vai trò là biến độc lập và hành vi ĐCLN là biến phụ thuộc.
Kết quả là, sau khi lọc tiêu đề bài báo và các từ khóa, số lượng nghiên cứu còn lại bao gồm: 228 bài. Tác giả tiếp tục loại bỏ các bài viết có nội dung trong phần tóm tắt (abstract) không phù hợp và số lượng các nghiên cứu còn lại: 86 bài. Cuối cùng, tác giả loại bỏ các nghiên cứu không được phân loại là tạp chí khoa học (journal article) và không đáp ứng đủ điều kiện về biến phụ thuộc cũng như biến độc lập. Số lượng nghiên cứu còn lại là 49.
Cuối cùng, tác giả lựa chọn tiêu chí để tiến hành phân loại và lược khảo các tài liệu nghiên cứu đã được lựa chọn. Theo đề xuất của tác giả T. Nguyen et al.1 mô tả xu hướng xuất bản của các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến mối liên hệ giữa đa dạng giới trong HĐQT và hành vi QTLN. Dựa theo xu hướng xuất bản, tác giả phân loại khoảng thời gian 2010 – 2021 thành 3 nhóm: giai đoạn thứ nhất (2010 – 2014), giai đoạn thứ hai (2015 – 2018) và giai đoạn thứ ba (2018 – 2021).
11 14 13 12 Số lượng nghiên cứu 10 8 7 6 6 5 5 4 4 3 3 2 2 1 0 0 0 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 Hình 1.1: Thống kê xu hướng xuất bản nghiên cứu Nguồn: Tổng hợp của tác giả Trong giai đoạn khởi đầu từ năm 2010 – 2014, đây là thời điểm mà chủ đề đa dạng giới trong HĐQT và mối liên hệ của nó đến với hành vi ĐCLN bắt đầu được quan tâm. Tuy nhiên, bởi vì chỉ là giai đoạn sơ khởi, nên số lượng nghiên cứu liên quan trực tiếp tới chủ đề còn khá hạn chế và trong khoảng thời gian từ 2012 – 2014, hầu như không có nghiên cứu liên quan được xuất bản. Bên cạnh đó, sự quan tâm về mối liên hệ này chỉ hầu như chỉ hiện diện tại các quốc gia phát triển hay cụ thể hơn là Mỹ, khi năm trên sáu nghiên cứu trong giai đoạn này đều có bối cảnh nghiên cứu là Mỹ một trong những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới (Peni, Yu, & Vähämaa, 2010; Srinidhi, Gul, & Tsui, 2011; Sun, Liu, & Lan, 2010; Thiruvadi & Huang, 2011; Thiruvadi, Rama, Davidson, & Barua, 2010). Mặc dù chỉ mới là những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này, tuy nhiên các nghiên cứu đã có sự phân hóa trong việc đánh giá vai trò của nữ giới trong HĐQT đến hành vi ĐCLN.
Cụ thể hơn, nghiên cứu của Sun et al. (2010); Thiruvadi and Huang (2011) được tiến hành thông qua việc đánh giá sự hiện diện của nữ giới trong ủy ban kiểm toán của DN và tác động của họ đến với hành vi ĐCLN. Ngoài ra, Peni et al. (2010); Srinidhi et al.
(2011); Thiruvadi et al. (2010) có chung ý tưởng nghiên cứu khi họ đều đánh giá vai trò của các giám đốc nữ trong HĐQT trong việc ngăn chặn các hành vi ĐCLN. Cụ thể hơn, tác giả Peni et al. (2010); Thiruvadi et al.
(2010) ngoài việc đánh giá vai trò của các giám đốc có giới tính là nữ, họ còn xem xét liệu các giám đốc tài chính hay giám đốc điều hành có vai trò như thế nào 12 trong việc kiểm soát chất lượng thu nhập của DN. Các nghiên cứu kể trên đều được thực hiện với cấp độ phân tích là các DN được niêm yết tại Mỹ với phạm vi thời gian của mẫu dao động từ 1 đến 8 năm trong giai đoạn 2001 – 2009. Một điểm chung nữa của các nghiên cứu này là các tác giả đều tiếp cận kỹ thuật QTLN thông qua cơ sở dồn tích cụ thể là các mô hình của Patricia M Dechow and Skinner (2000); Patricia M Dechow, Sloan, and Sweeney (1995); Dichev and Dechow (2002); Jones (1991); Kothari, Leone, and Wasley (2005). Xu hướng chung này được lý giải bởi vì vào giai đoạn này, kỹ thuật điểu chỉnh lợi nhuận thông qua cơ sở giao dịch thực chỉ mới được ra đời và chưa trở nên phổ biến (Roychowdhury, 2006), vì vậy các tác giả ưa chuộng việc sử dụng hình thức còn lại hơn.
Ngoài ra, đối với việc đo lường HĐQT đa dạng giới, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng các chỉ tiêu như: tỷ lệ nữ thành viên trong HĐQT/ ủy ban kiểm toán (Peni et al., 2010; Sun et al., 2010; Thiruvadi & Huang, 2011); biến giả đại diện cho sự hiện diện của nữ giới trong HĐQT (Peni et al. Đặc biệt hơn, nghiên cứu của Srinidhi et al. Về phương pháp nghiên cứu, các tác giả trên đều tiếp cận nghiên cứu theo cách tiếp cận định lượng với các mô hình kinh tế lượng truyền thống cơ bản như OLS (Peni et al., 2010; Sun et al., 2010; Thiruvadi & Huang, 2011; Thiruvadi et al., 2010), 2SLS (Srinidhi et al. Cuối cùng, nhìn chung kết quả nghiên cứu đều chỉ ra được mối liên hệ ngược chiều giữa sự đa dạng giới trong HĐQT/ủy ban kiểm toán và hành vi ĐCLN.
Các giám đốc nữ hay các thành viên trong ủy bản kiểm toán có vai trò ngăn chặn và phát hiện các hành vi TTLN và làm tăng chất lượng thu nhập cũng như thông tin trên BCTC (Peni et al., 2010; Srinidhi et al., 2011; Thiruvadi & Huang, 2011; Thiruvadi et al. Tuy nhiên, nghiên cứu của Sun et al. (2010) lại cho thấy không có mối liên hệ giữa sự hiện diện của các giám đốc nữ trong ủy ban kiểm toán độc lập của công ty và hành vi TTLN hay Peni et al. (2010) chỉ ra rằng khi có hơn 4 nữ thành viên Thì HĐQT đa dạng giới không có tác động lên việc phát hiện và ngăn chặn các hành vi ĐCLN.
13 Tiến đến giai đoạn thứ hai (2015 – 2018), dựa trên những kết quả nghiên cứu nền tảng đi trước và vấn đề đa dạng giới trong HĐQT nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Vì vậy, số lượng nghiên cứu được xuất bản liên quan trực tiếp đến mối liên hệ giữa đa dạng giới trong HĐQT và hành vi ĐCLN đã gia tăng đáng kể (22 bài). Hiểu được hạn chế của những nghiên cứu trong giai đoạn đầu tiên về mặt bối cảnh, các nhà nghiên cứu đã đa dạng hóa về mặt bối cảnh nghiên cứu khi mẫu nghiên cứu được lấy từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giớ. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng được phân bổ ở các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Úc, Italia, Hàn Quốc (Arun, Almahrog, & Ali Aribi, 2015; Belot & Serve, 2018; Duong & Evans, 2016; García Lara, García Osma, Mora, & Scapin, 2017; Kyaw et al., 2015; Marchini, Medioli, Tibiletti, & Triani, 2017; Na & Hong, 2017) hay các nước đang phát triển như Việt Nam, Malaysia, Isarel, Nigeria, Trung Quốc (Abdullah & Ismail, 2016; Alquhaif, Latif, & Chandren, 2017; Ammer & Ahmad-Zaluki, 2017; E.
Chen & Gavious, 2016; Hoang et al., 2017; Ishak, Amran, & Abdul Manaf, 2016; Luo, Xiang, & Huang, 2017; Obigbemi, Omolehinwa, Mukoro, Ben-Caleb, & Olusanmi, 2016; Pavlović, 2018; Waweru, 2018).