đặt vấn đề cổ phần hóa lên làm ƣu tiên hàng đầu. Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc góp phần hình thành nên hai sàn giao dịch chứng khoán lớn tại Việt Nam là sàn Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX). Sau 10 năm vận hành và phát triển thì số lƣợng doanh nghiệp niêm yết đã tăng lên rất nhiều doanh nghiệp với mức vốn hóa thị trƣờng chiếm gần 50% GDP của Việt Nam. Dẫu vậy, so với các quốc gia khác trong khu vực thì quy mô của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam còn tƣơng đối nhỏ với hai vấn đề chính còn tồn tại đó chính là hành vi đầu tƣ bầy đàn và thông tin bất cân xứng (Leung, 2009).
Hành vi bầy đàn có thể đƣợc giảm thiểu bằng cách đƣa ra các hƣớng dẫn và tổ chức các buổi tập huấn nâng cao kiến thức đối với nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc. Đối với vấn đề bất cân xứng thông tin thì chính phủ cần phải củng cố khung pháp lý và điều chỉnh các quy định hiện tại để làm minh bạch thông tin trên thị trƣờng từ đó giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin (Leung, 2009). Tuy vậy, với những bất cập còn tồn tại, các doanh nghiệp vẫn ngần ngại trong việc vận động nguồn vốn thông qua kênh này. Vì vậy, hầu hết các nguồn tài trợ cho các dự án đầu tƣ của doanh nghiệp đa phần xuất phát từ ngân hàng.
Tuy nhiên, trong khi hầu hết các doanh nghiệp tƣ nhân chỉ có thể tiếp cận với các khoản vay ngắn hạn thì doanh nghiệp nhà nƣớc lại có thể tiếp cận 2 đƣợc với cả khoản vay ngắn hạn và dài hạn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể tìm kiếm nguồn tài trợ thông qua thị trƣờng trái phiếu. Tuy nhiên, Việt Nam là thị trƣờng còn kém phát triển. Ở Việt Nam, hầu hết trái phiếu đến từ chính phủ hoặc các cơ quan có liên quan đến chính phủ nhƣ là chính quyền địa phƣơng hay ngân hàng phát triển (Leung, 2009).
Quyết định về cấu trúc vốn là một trong những quyết định quan trọng trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sử dụng chính sách nợ nhƣ thế nào và làm sao cho tác động của đòn bẩy tài chính tạo ra chi phí sử dụng vốn thấp nhất là điều rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu về cấu trúc vốn đã đƣợc thực hiện nhƣng các nghiên cứu thƣờng cho ra kết quả khác nhau. Modigliani và Miller (1958) chỉ ra rằng việc điều chỉnh cấu trúc vốn của doanh nghiệp không ảnh hƣởng đến giá trị doanh nghiệp vì giá trị doanh nghiệp lệ thuộc vào tài sản thực chứ không phải vào số lƣợng cổ phiếu trong cấu trúc vốn.
Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết M&M, nhƣng lý thuyết này chỉ đúng với các giả định của thị trƣờng vốn hoàn hảo. Khi các giả định này bị vi phạm thì lý thuyết không còn đúng nữa. Sau đó, Modigliani và Miller (1963) đề xuất rằng doanh nghiệp nên sử dụng nhiều nợ hơn trong cấu trúc vốn để có thể tận dụng đƣợc lợi ích của lá chắn thuế. Quan điểm này sau đó đƣợc ủng hộ bởi Jensen và Meckling (1979) cho rằng doanh nghiệp sử dụng càng nhiều nợ thì doanh nghiệp càng gia tăng đƣợc giá trị của mình.
Lá chắn nợ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn nhờ vào việc đƣợc miễn giảm các khoản thuế phải nộp và tăng cƣờng sự giám sát từ phía chủ nợ trên thị trƣờng vốn (Jermias, 2008). Chủ nợ có thể đƣa ra một số điều khoản trong hợp đồng để ngăn nhà quản trị không gây tổn hại đến hoạt động của doanh nghiệp (Simerly & Li, 2000). Sự khác biệt về kết quả nghiên cứu giữa các công trình khác nhau thôi thúc tác giả đánh giá về tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong giai đoạn gần đây, vấn đề cổ phần hóa diễn ra phổ biến tại cả những quốc gia đang phát triển và những quốc gia đã phát triển.
Hai thập kỷ vừa qua đã chứng kiến sự sụt giảm về số lƣợng các doanh nghiệp nhà nƣớc (Buck Filatotchev Wright, 1998; Djankov & Murrell, 2002; Rodríguez, Espejo, & Cabrera, 2007; Sheshinski & López-Calva, 2003; Uhlenbruck & Castro, 1998). Dẫu nhiều doanh nghiệp nhà nƣớc trƣớc đây đã thực hiện cổ phần hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động 3 nhƣng vẫn còn một số doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động nhƣ cũ. Jensen và Meckling (1979) và Shleifer và Vishny (1986) cho rằng cấu trúc sở hữu sẽ chi phối hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thông qua tác động của nó đến chi phí đại diện. So với doanh nghiệp tƣ nhân thì doanh nghiệp nhà nƣớc hoạt động kém hiệu quả hơn và lợi nhuận thấp hơn vì mục tiêu của doanh nghiệp nhà nƣớc không phải là tối đa hóa lợi nhuận mà là lợi ích xã hội hay là quyền lực chính trị (Frye & Shleifer, 1997; La Porta, Lopez-de-Silanes, Shleifer, & Vishny, 1999; Shleifer, 1998).
Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nƣớc thƣờng phải đối mặt với vấn đề xung đột đại diện nghiêm trọng vì chủ sở hữu không có động thái để giám sát hay thúc đẩy hành vi của doanh nghiệp (Megginson & Netter, 2001; Shleifer, 1998). Sau khi cổ phần hoá, doanh nghiệp nhà nƣớc có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và đạt đƣợc lợi nhuận cao hơn (Barberis, Boycko, Shleifer, & Tsukanova, 1996; D'Souza, Megginson, & Nash, 2005; Mathur & Banchuenvijit, 2007; Megginson, Nash, & Van Randenborgh, 1994). Tuy nhiên, Vickers và Yarrow (1991) cho rằng không phải chỉ có doanh nghiệp nhà nƣớc mới phải đối mặt với vấn đề đại diện. Vấn đề đại diện giữa nhà quản trị và chủ sở hữu cũng nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp tƣ nhân.
Hơn nữa, Sun, Tong, và Tong (2002) cho rằng không thể biết chắc đƣợc liệu nhà quản trị trong doanh nghiệp nhà nƣớc có tận dụng nguồn lực của doanh nghiệp để đạt đƣợc lợi ích chính trị hay sẽ sử dụng mối quan hệ chính trị để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nƣớc. Nếu doanh nghiệp nhà nƣớc nhận đƣợc đƣợc sự hỗ trợ từ chính phủ, họ có thể hoạt động hiệu quả hơn. Hiện tại, xét về tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động thì có hai quan điểm đối lập nhau. Thứ nhất, đòn bẩy tài chính có tác động dƣơng đến hiệu quả hoạt động vì việc vay nợ giúp giảm thiểu chi phí đại diện này sinh do bởi xung đột giữa nhà quản trị và chủ sở hữu.
Nợ vay cũng thúc đẩy nhà quản trị điều hành doanh nghiệp hiệu quả hơn để hoàn thành nghĩa vụ vay nợ. Thứ hai, đòn bẩy tài chính có tác động âm đến hiệu quả hoạt động khi việc vay nợ nhiều khiến doanh nghiệp bị thiếu hụt nguồn quỹ để tài trợ cho các dự án đầu tƣ sinh lợi khác trong tƣơng lai do doanh nghiệp khó có thể vay thêm khi nợ vay quá cao. Ngoài ra, nợ vay còn làm gia tăng xung đột lợi ích giữa nhà quản trị và chủ sở hữu. Dẫu có hai quan điểm khác biệt, nhƣng các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam đều chỉ ra tác động âm của đòn bẩy tài 4 chính lên hiệu quả hoạt động vì bản thân các nghiên cứu này đều đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên khía cạnh lợi nhuận mà khi gia tăng vay nợ, việc phải chịu mức lãi suất cao hơn khiến cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng giảm đi (Le, 2013; Tran, 2015; Chang và cộng sự, 2014; Nguyen & Nguyen, 2020).
Xét về sở hữu nhà nƣớc, thì cũng có hai quan điểm đối lập đƣợc đƣa ra. Thứ nhất, sự tham gia của chính phủ vào hoạt động doanh nghiệp giúp gia tăng cơ chế giám sát và tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận khoản vay. Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng chính phủ thƣờng theo đuổi các mục tiêu khác nhau và điều này khiến cho doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả hơn. Khi xét đến các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, đa phần đều chỉ ra rằng các doanh nghiệp sau cổ phần hóa có thể cải thiện hiệu quả hoạt động (Loc, Lanjouw, & Lensink, 2006; Tran, Nonneman, & Jorissen, 2014; Vo, 2018).
Dẫu vậy, một số nghiên cứu cũng chứng minh rằng tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp khi nó ở mức vừa phải không quá cao (Phung & Hoang, 2013; Le và cộng sự, 2016). Điều này thôi thúc luận văn đánh giá tác động của tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc cùng với các mức tỷ lệ sở hữu khác nhau đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc cũng có thể can thiệp vào đòn bẩy tài chính. Doanh nghiệp với tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc cao có khuynh hƣớng sẽ sử dụng nợ vay nhiều hơn vì nhận đƣợc nhiều ƣu đãi và bảo hộ từ phía chính phủ.
Khả năng kiệt quệ tài chính của họ cũng thấp hơn. Điều này khiến họ gia tăng vay nợ quá mức và làm trầm trọng thêm tác động xấu của nợ vay. Nhƣng cũng có quan điểm cho rằng doanh nghiệp với tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc cao lại tránh vay nợ mà sử dụng phát hành cổ phiếu để tài trợ cho dự án đầu tƣ vì bản thân họ không muốn giảm đi mức độ kiểm soát của mình đối với doanh nghiệp. Dựa trên lập luận đó, luận văn cho rằng sở hữu nhà nƣớc có thể can thiệp vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp và từ đó tác động đến hiệu quả hoạt động.
Vì vậy, luận văn sẽ đánh giá tác động điều tiết của sở hữu nhà nƣớc tại các mức sở hữu khác nhau để đánh giá khi nào sở hữu nhà nƣớc gia tăng hay xoa dịu tác động tiêu cực của đòn bẩy tài chính đối đối với trƣờng hợp các doanh nghiệp Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và sở hữu nhà nƣớc đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nƣớc đối với tác động của đòn bẩy tài chính. - Mục tiêu cụ thể: Mục tiêu 1: Xác định tác động riêng phần của đòn bẩy tài chính và sở hữu nhà nƣớc đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Mục tiêu 2: Xác định tác động điều tiết của các mức độ sở hữu nhà nƣớc khác nhau đối với mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động.
Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Đòn bẩy tài chính và sở hữu nhà nước có ảnh hưởng ra sao đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp? Câu hỏi 2: Các mức độ sở hữu nhà nước khác nhau có thể điều tiết tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động như thế nào? 1.