Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến quyết định nắm giữ tiền và ảnh hưởng của quyết định nắm giữ tiền đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và cách thức thu thập nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền đến khả năng sinh lợi trên tài sản (ROA) và giá trị doanh nghiệp (PBR) ở từng mức thiết lập cơ hội đầu tư khác nhau của các doanh nghiệp Việt Nam thế nào, mức độ ảnh hưởng ra sao, tác động như thế nào; đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được.
Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài. 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Cơ sở lý luận khoa học về nắm giữ tiền mặt Theo Ferreira và Vielela (2004) có ba mô hình lý thuyết có thể giúp xác định các đặc điểm doanh nghiệp mà quyết định việc nắm giữ tiền.1 Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984) phát biểu rằng các doanh nghiệp tài trợ cho các dự án đầu tư trước hết bằng lợi nhuận giữ lại, sau đó đến các khoản nợ và cuối cùng là vốn cổ phần. Mục đích của điều này là để giảm thiểu chi phí bất cân xứng thông tin và các chi phí tài chính khác.
Lý thuyết này cho rằng các doanh nghiệp không có mức nắm giữ tiền mục tiêu, nhưng thay vào đó, tiền được sử dụng như một tấm đệm giữa lợi nhuận giữ lại và nhu cầu đầu tư. Do đó, khi dòng tiền hoạt động hiện tại đủ để tài trợ cho các dự án đầu tư mới, doanh nghiệp mới hoàn trả nợ và tích lũy tiền. Khi lợi nhuận giữ lại không đủ để tài trợ cho các đầu tư hiện tại, doanh nghiệp sử dụng tiền tích lũy và nếu cần mới phát hành nợ. Thiết lập cơ hội đầu tư.
Một sự thiết lập cơ hội đầu tư lớn tạo ra nhu cầu tiền lớn, vì sự thiếu hụt tiền có nghĩa là nếu một công ty không được tài trợ bằng bằng nguồn vốn bên ngoài tốn kém trong khi bản thân doanh nghiệp không đủ nguồn tiền để đáp ứng cho đầu tư, doanh nghiệp này phải từ bỏ các cơ hội đầu tư sinh lợi. Do đó, mối quan hệ đồng biến giữa thiết lập cơ hội đầu tư và nắm giữ tiền được dự kiến. Trong thế giới được phân hạng, nợ thường tăng khi đầu tư vượt quá lợi nhuận giữ lại và giảm khi đầu tư ít hơn lợi nhuận giữ lại. Do đó, nắm giữ tiền theo mô hình ngược lại, nắm giữ tiền giảm khi đầu tư vượt quá lợi nhuận giữ lại và tăng khi đầu tư ít hơn lợi nhuận giữ lại.
Mối quan hệ này giữa nắm giữ tiền, nợ và đầu tư cho rằng có một mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy và nắm giữ tiền. 123doc 8 Dòng tiền. Lý thuyết dự đoán các doanh nghiệp có dòng tiền cao sẽ nắm giữ nhiều tiền hơn.2 Lý thuyết dòng tiền tự do Jensen (1986) cho rằng các nhà quản lý có một động cơ để tích trữ tiền nhằm làm tăng tài sản dưới sự điều hành của họ và để tăng quyền tự quyết cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Có tiền sẵn để đầu tư, các nhà quản lý không cần phải huy động vốn ở bên ngoài cũng như phải cung cấp thông tin chi tiết về các dự án đầu tư của doanh nghiệp.
Do đó, các nhà quản lý có thể thực hiện các đầu tư mà có một tác động ngược chiều lên lợi ích của cổ đông. Thiết lập cơ hội đầu tư. Giám đốc của những công ty có cơ hội đầu tư yếu được dự kiến nắm giữ nhiều tiền hơn để đảm bảo sự sẵn có của các quỹ cho đầu tư vào các dự án tăng trưởng, ngay cả khi NPV của các dự án là âm. Điều này sẽ làm giảm giá trị cổ đông ngay cả khi doanh nghiệp có chương trình đầu tư lớn, với một tỉ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách thấp.
Do đó, sử dụng giá trị thị trường trên giá trị sổ sách lớn như là một đại diện, có khả năng mối quan hệ giữa sự thiết lập cơ hội đầu tư và nắm giữ tiền sẽ là ngược chiều. Các doanh nghiệp có đòn bẩy thấp ít quan tâm đến việc giám sát, cho phép quyết định quản trị cao hơn. Do đó, Lý thuyết dòng tiền tự do dự kiến doanh nghiệp có đòn bẩy thấp nắm giữ nhiều tiền hơn.3 Mô hình đánh đổi Thuật ngữ Lý thuyết đánh đổi được sử dụng bởi nhiều tác giả khác nhau nhằm mô tả các lý thuyết có liên quan, mà theo quan điểm của lý thuyết này các nhà quản lý ra quyết định bằng cách đánh giá giữa lợi ích và chi phí sao cho lợi ích biên và chi phí biên là cân bằng nhau. Lý thuyết đánh đổi cho rằng các doanh nghiệp thiết lập mức độ nắm giữ tiền tối ưu bằng cách tính toán chi phí biên và lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền.
Có nhiều lợi ích liên quan đến việc nắm giữ tiền. Thứ nhất, việc nắm giữ tiền làm giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính khi nó hoạt động như là một dự trữ an toàn giúp doanh nghiệp đối mặt với những tổn thất bất 123doc 9 ngờ hoặc khi doanh nghiệp gặp các khó khăn huy động vốn bên ngoài. Thứ hai, việc nắm giữ tiền cho phép theo đuổi các chính sách đầu tư tối ưu thậm chí là khi có khó khăn tài chính xảy ra. Nếu không, các khó khăn từ việc huy động vốn bên ngoài sẽ khiến các doanh nghiệp từ bỏ các dự án đầu tư có NPV dương.
Cuối cùng, việc nắm giữ tiền góp phần làm tối thiểu chi phí huy động vốn bên ngoài hoặc thanh lý các tài sản hiện hữu dễ thanh khoản khi nó hoạt động như là miếng đệm giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Chi phí biên truyền thống của việc nắm giữ tiền là chi phí cơ hội của nguồn vốn do tỉ lệ lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn thấp. Thiết lập cơ hội đầu tư. Chi phí phát sinh trong tình trạng thiếu tiền là cao hơn đối với các doanh nghiệp có sự thiết lập cơ hội đầu tư lớn hơn do tổn thất có thể dự báo được vì thiếu tiền nên phải từ bỏ các cơ hội đầu tư có giá trị.
Do đó, Lý thuyết đánh đổi dự đoán mối quan hệ đồng biến giữa cơ hội đầu tư và việc nắm giữ tiền. Đòn bẩy làm tăng khả năng phá sản do áp lực các kế hoạch trả nợ dần cứng nhắc đặt lên việc quản lý quỹ doanh nghiệp. Để giảm khả năng trải qua khó khăn tài chính, các doanh nghiệp có đòn bẩy cao hơn nắm giữ nhiều tiền hơn. Nói theo cách khác, phạm vi mà tỉ lệ đòn bẩy hoạt động như là một đại diện cho khả năng doanh nghiệp phát hành thêm nợ nó được mong đợi các doanh nghiệp mà đòn bẩy cao hơn (khả năng tăng nợ cao hơn) nắm giữ ít tiền hơn.
Do đó, dự đoán mối quan hệ giữa nắm giữ tiền với đòn bẩy là không rõ ràng. Trong trường hợp mà dòng tiền cung cấp một nguồn thanh khoản có sẵn (xem Kim và cộng sự, 1998) nó được xem như là sự thay thế tiền. Do đó, lý thuyết đánh đổi dự kiến một mối quan hệ nghịch biến giữa dòng tiền và việc nắm giữ tiền. Sự biến động của dòng tiền.
Các doanh nghiệp có dòng tiền biến động hơn đối mặt với một khả năng cao hơn việc thiếu hụt tiền do sự suy giảm bất ngờ của dòng tiền. Do đó, sự biến động của dòng tiền có mối quan hệ đồng biến với việc nắm giữ tiền.1: Tóm tắt các mô hình lý thuyết có thể giúp xác định các đặc điểm doanh nghiệp mà quyết định việc nắm giữ tiền Lý thuyết trật tự Lý thuyết dòng tiền Lý thuyết đánh đổi phân hạng tự do Thiết lập cơ hội Đồng biến Nghịch biến Đồng biến đầu tư Đòn bẩy Nghịch biến Nghịch biến Không rõ Dòng tiền Đồng biến Nghịch biến Sự biến động của Đồng biến dòng tiền 2.2 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về động cơ thúc đẩy việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp Trong bài nghiên cứu “Các yếu tố và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt” được thực hiện bởi Opler, Tim, Lee F. Stulz và Rohan Williamson vào năm 1999 nhằm kiểm tra các yếu tố quyết định và các ảnh hưởng của nắm giữ tiền mặt và sự an toàn thanh khoản của các công ty được niêm yết ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1971 – 1994. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu gồm các doanh nghiệp được công bố theo ngành hàng năm của Compusat trong giai đoạn từ 1971 – 1994.
Dữ liệu này bao gồm các công ty còn tồn tại và không tồn tại mà xuất hiện trên Compusat bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn lấy mẫu đồng thời loại bỏ các công ty tài chính, công ty công ích và các doanh nghiệp có doanh thu âm trong nhiều năm. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định, được thực hiện qua ba bước: Đầu tiên, các tác giả kiểm tra câu hỏi cơ bản là liệu các doanh nghiệp hoạt động như thế nào nếu như 123doc 11 họ có một mức số dư tiền mục tiêu.