CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Một số học giả nước ngoài đã nghiên cứu về đòn bẩy tài chính có thể kể đến những nghiên cứu sau đây: Tác động của đòn bẩy tài chính đến lợi nhuận của các công ty sản xuất niêm yết ở Trung Quốc Nghiên cứu của Dalci, I. (2018) với mục đích khám phá cách đòn bẩy tài chính ảnh hưởng đến lợi nhuận của 1.503 công ty sản xuất niêm yết ở Trung Quốc, thông tin tài chính hàng năm từ năm 2008 đến năm 2016 được lấy từ cơ sở dữ liệu ORBIS.
Trong nghiên cứu này, ban đầu, một phương pháp tiếp cận phương trình đồng thời được sử dụng để kiểm soát tính nội sinh tiềm tàng. Sau đó, các phân tích hồi quy bổ sung được thực hiện với dữ liệu bảng trong giai đoạn 2008-2016 bằng cách sử dụng các phương pháp OLS, Hiệu ứng cố định, Khác biệt đầu tiên, Hiệu ứng ngẫu nhiên và Phương pháp Khoảnh khắc tổng quát hai bước của Arellano và Bond (1991). Kết quả cho thấy tác động của đòn bẩy lên khả năng sinh lời là hình chữ U ngược. Trong mối quan hệ hình chữ U ngược này, tác động tích cực của đòn bẩy tài chính đối với khả năng sinh lời có thể là do lá chắn thuế, trong khi tác động tiêu cực có thể là do chi phí phá sản, khó khăn tài chính, các vấn đề cơ quan nghiêm trọng và sự bất cân xứng thông tin mà các công ty niêm yết của Trung Quốc phải gánh chịu vì một số đặc điểm thể chế của Trung Quốc.
Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các công ty năng lượng Mỹ. Nghiên cứu của Mohamed Tailab (2014) nhằm mục đích phân tích ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hoạt động tài chính, mẫu nghiên cứu gồm 30 công ty Năng lượng Mỹ trong thời gian chín năm từ 2005 - 2013 đã được xem xét. Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng Smart PLS (Partial Least Square) phiên bản 3. Kết quả cũng cho thấy rằng tổng nợ có tác động tiêu cực đáng kể đến ROE và ROA, trong khi quy mô về doanh số chỉ ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến ROE của các công ty Mỹ.
Tuy nhiên, 5 một khoản nợ ngắn hạn có ảnh hưởng tích cực đến ROE. Mối quan hệ tiêu cực hoặc tích cực không đáng kể đã được quan sát thấy giữa nợ dài hạn, nợ trên vốn chủ sở hữu và quy mô về tổng tài sản và khả năng sinh lời. Tác động của đòn bẩy tài chính đối với khả năng sinh lời của doanh nghiệp: Điều tra từ ngành xi măng của Pakistan Nghiên cứu của Ahmad, Nawaz và Salman, Atif và Shamsi, Aamir (2015) chỉ ra mối quan hệ ngẫu nhiên giữa đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời của ngành xi măng hoạt động tại Pakistan. Vì mục đích này, 18 nhà sản xuất xi măng trong số 21 nhà sản xuất được đưa vào nghiên cứu và dữ liệu hàng năm sáu năm từ 2005 đến 2010 về đòn bẩy tài chính và lợi nhuận của các công ty nói trên đã được xem xét, tổng cộng 108 quan sát.
Với mục đích này chỉ có một biến độc lập, đòn bẩy tài chính được sử dụng trong mô hình OLS được đo bằng tỷ lệ tổng nợ, bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn, trên tổng tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản không lưu động. Biến phụ thuộc là lợi nhuận được đo bằng tỷ lệ thu nhập ròng sau thuế trên tổng tài sản còn được gọi là lợi nhuận trên tài sản (ROA). Giả thuyết của nghiên cứu là giữa đòn bẩy tài chính và lợi nhuận của các công ty trong lĩnh vực sản xuất xi măng được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi có mối quan hệ ngược chiều đáng kể. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy giả thuyết trên là đúng.
Các công ty đòn bẩy cao có lợi nhuận thấp hơn và các công ty đòn bẩy thấp hơn có lợi nhuận cao hơn. Ngành xi măng là ngành có đòn bẩy cao của Pakistan. Các công ty lớn vay nợ cho mục đích mở rộng, đòi hỏi họ phải trả chi phí cố định cho các khoản nợ rất cao ở Pakistan. Chi phí cố định cao đặt tác động bất lợi lên lợi nhuận của công ty, điều đó có nghĩa là nó làm giảm thu nhập ròng của công ty.
Bất ổn định kinh tế chính trị và trật tự pháp luật đang tạo ra nhiều bất lợi cho lĩnh vực này. Hành vi đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty: Bằng chứng từ các công ty được báo giá công khai ở Nigeria Nghiên cứu của Godsday Okoro Edesiri (2014) phân tích hành vi đòn bẩy tài chính và hoạt động kinh doanh của các công ty được báo giá công khai ở Nigeria. Dữ liệu về đòn bẩy, khả năng sinh lời và quy mô doanh nghiệp được lấy từ sổ dữ kiện và báo cáo thường niên của Sở giao dịch chứng khoán Nigeria và tài khoản của 120 công 6 ty được niêm yết công khai ở Nigeria trong giai đoạn 1990 đến 2013. Các phát hiện cho thấy lợi nhuận và quy mô công ty có ảnh hưởng tiêu cực đến tài chính hành vi đòn bẩy của các công ty được báo giá công khai ở Nigeria.
Do đó, tác giá đã đưa ra khuyến nghị rằng các công ty nên thực hiện các dự án giúp nâng cao quy mô và lợi nhuận về mọi mặt của công ty. Quy mô tài sản sẽ giúp tăng nguồn vốn nội bộ. Điều này sẽ có tác động tích cực đến cấu trúc tài chính của công ty vì nhiều nguồn vốn nội bộ tạo ra sẽ được sử dụng thay vì đi vay bên ngoài. Các công ty không nên cho rằng việc tạo ra lợi nhuận cho thấy việc áp dụng đòn bẩy tốt vì điều này không đúng từ phân tích.
Điều này ngụ ý rằng kết quả có thể được dựa vào để định hướng chính sách. Đòn bẩy và hiệu quả hoạt động của công ty: Bằng chứng quốc tế Bài nghiên cứu của Gonzalez, VM (2013) phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng này khác nhau như thế nào giữa các quốc gia. Kết quả đối với 10.375 công ty tại 39 quốc gia cho thấy rằng hiệu quả hoạt động của các công ty có đòn bẩy tài chính lớn hơn bị giảm đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh trong thời kỳ suy thoái của ngành, phù hợp với tầm quan trọng của chi phí khó khăn tài chính. Tuy nhiên, hiệu lực này thay đổi tùy theo nguồn gốc pháp lý của các quốc gia, là tích cực ở các quốc gia luật dân sự của Pháp.
Việc bảo vệ quyền của cổ đông và sức mạnh của việc thực thi pháp luật là những biến số chính giải thích ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đối với hoạt động kinh doanh. Tổng quan nghiên cứu trong nước Bên cạnh các bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thì trong nước cũng có những bài nghiên cứu liên quan đến chủ đề mà tác giả đã lựa chọn, có thể kể đến những nghiên cứu sau đây: Tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam: tiếp cận bằng hồi quy phân vị. Nghiên cứu của Trần Thị Tuấn Anh, Đặng Thị Thu Thủy (2017) phân tích tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam 7 với dữ liệu thu thập từ 100 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2012 đến 2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và mức độ tác động khác nhau ở những phân vị khác nhau.
Trong điều kiện các yếu tố khác như nhau, đòn bẩy tài chính sẽ tác động ít tiêu cực hơn đối với các doanh nghiệp có ROE ở phân vị thấp. Và sự gia tăng của đòn bẩy tài chính sẽ gây suy giảm ROE nhiều hơn ở những doanh nghiệp có ROE ở phân vị cao. Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp, hệ số lợi nhuận ròng, hiệu suất sử dụng tổng tài sản đều có ý nghĩa thống kê và mang dấu dương trên tất cả các phân vị được xét trong mối quan hệ với ROE. Tác động của đòn bẩy tài chính và quy mô đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam.
Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Vân (2018) tìm hiểu tác động của đòn bẩy tài chính và quy mô đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam. Dữ liệu quan sát trong 7 năm từ 2010 đến 2016 với 236 công ty cổ phần ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy có trọng số GLS đo lường mức độ tác động của các biển độc lập như biển đòn bẩy (đo lường bằng tỷ số nợ), biển quy mô doanh nghiệp được đo lường theo quy mô tài sản và quy mô theo doanh thu tác động đến biến phụ thuộc là khả năng sinh lời của các công ty (xác định bằng ROA). Kết quả nghiên cứu xác định được đòn bẩy tài chính và quy mô theo tài sản có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời, trong khi quy mô theo doanh thu tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời.
Hệ số beta từ phương trình hồi quy cho thấy mức độ tác động của đòn bẩy tài chính đến khả năng sinh lời là mạnh mẽ nhất, còn hệ số beta của quy mô thì quá nhỏ. Điều này cho thấy đòn bẩy tài chính là có tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, còn quy mô có tác động rất yếu đến khả năng sinh lời. Vì vậy, để gia tăng khả năng sinh lời, các nhà đầu tư cần cân nhắc đến cấu trúc vốn tài trợ thay vì chú trọng đến việc mở rộng quy mô đầu tư của doanh nghiệp. 8 Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Vai trò của cạnh tranh ngành Nghiên cứu của Châu Văn Thường, Trần Lê Khang, Nguyễn Công Thành (2017) tìm hiểu ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh ngành, tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2007–2015 và được phân loại thành 13 nhóm ngành.