Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về cấu trúc vốn doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành Vật liệu xây dựng niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp ngành Vật liệu xây dựng niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn 1. Nghiên cứu nước ngoài Hidayat và cộng sự (2019), dựa trên việc xem xét tầm quan trọng của việc thiết lập cấu trúc vốn cho sự hoạt động liên tục của doanh nghiệp, tác giả tiến hành nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty ô tô và phụ tùng trên thị trường chứng khoán Indonesia.
Nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra xem các cấu trúc vốn, ROA, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh số ảnh hưởng đến cấu trúc vốn trên thị trường chứng khoán Indonesia. Phân tích trong nghiên cứu này đã sử dụng nhiều tuyến tính hồi quy. Dữ liệu sử dụng lấy từ báo cáo tài chính hàng năm của công ty trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia từ năm 2011 đến năm 2017. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng cấu trúc tài sản có tác động tích cực đến cấu trúc vốn, ROA không không ảnh hưởng đến giá trị công ty, quy mô công ty ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc vốn và doanh số tăng trưởng không ảnh hưởng đến cấu trúc vốn.
Lisboa (2019), đã phân tích tác động của cường độ xuất khẩu đến lựa chọn cấu trúc vốn của 647 công ty Bồ Đào Nha trong ngành khuôn mẫu, giai đoạn 2010-2017. Nghiên cứu sử dụng cường độ xuất khẩu các biến độc lập, các biến giải thích là các đặc điểm cụ thể của công ty và yếu tố kinh tế vĩ mô để thực hiện phân tích. Nghiên cứu tiến hành phân tích dựa trên 4225 quan sát, sử dụng phương pháp dữ liệu bảng và ước tính các mô hình có hiệu ứng cố định cho các công ty, những phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng các 5 yếu tố quyết định đáng tin cậy cho đòn bẩy là cơ cấu tài sản, cơ hội tăng trưởng, lá chắn thuế, tính thanh khoản, rủi ro, quy mô, tuổi và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Cường độ xuất khẩu chỉ phù hợp để giải thích các khoản nợ thông qua các khoản vay ngân hàng, trong khi cường độ xuất khẩu sang các nước bên ngoài châu Âu có liên quan để giải thích cả tổng nợ và nợ ngắn hạn.
Các kết quả chính phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi. Cuối cùng, nghiên cứu này chỉ ra rằng các công ty từ ngành công nghiệp khuôn mẫu mắc nợ nhiều hơn các công ty Bồ Đào Nha khác (về giá trị trung bình) và nợ ngắn hạn nợ có liên quan nhiều hơn trong tổng đòn bẩy của công ty. Jiang và cộng sự (2018), phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc. Nghiên cứu này xuất phát từ môi trường kinh tế và đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thảo luận các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các nhân tố ảnh hưởng được phân tích trong nghiên cứu bao gồm quy mô doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, năng lực của chủ sở hữu, tình hình kinh tế vĩ mô và chu kỳ kinh tế, luật pháp, ….Từ đó đưa ra các giải pháp đối phó, đề xuất nhằm tối ưu hóa cấu trúc vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ: chính phủ nên thực hiện một số biện pháp cần thiết để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chủ doanh nghiệp cũng nên nâng cao kiến thức của mình về kế toán và quản lý nhằm phát triển tốt công ty. Nghiên cứu trong nước Bùi Đan Thanh và Lê Thị Khuyên (2021) dựa trên cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn truyền thống của David Durand (1952), lý thuyết M&M (Modilligani và Miller (1958)), lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Kraus và Litzenberger (1973)) và lý thuyết trật tự phân hạng (Myers và Majluf (1984)) và các nghiên cứu thực nghiệm khác. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước 6 lượng bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), phương pháp ước lượng với tác động cố định (FEM-Fixed Effects Model) và phương pháp ước lượng với tác động ngẫu nghiên (REM-Random Effects Model) trên cơ sở dữ liệu của 94 doanh nghiệp ngành xây dựng trong giai đoạn 2014-2019 niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn doanh nghiệp bao gồm quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, khả năng thanh khoản, hệ số sinh lời, cơ hội tăng trưởng và tuổi doanh nghiệp.
Từ kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra một số khuyến nghị: điều chỉnh quy mô doanh nghiệp một cách hợp lý, nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, gia tăng vốn tự có và khai thác thêm các kênh huy động vốn. Bùi Văn Thụy (2020) đã đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng cả 2 phương pháp định tính và định lượng dựa trên các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, đồng thời sử dụng là phương pháp hồi quy theo: mô hình hồi quy gộp OLS (Pooled), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM).
Từ kết quả phân tích các mô hình trên, tác giả đã đưa ra kết luận lợi nhuận (ROA) có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn đại diện bởi tổng nợ trên tổng tài sản, nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, nợ dài hạn trên tổng tài sản. Các nhân tố có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp: kết cấu tài sản (TANG); quy mô (SIZE); tốc độ tăng trưởng (GROW); tính sở hữu doanh nghiệp (STATE). Ngoài ra kết quả nghiên cứu chưa đưa ra bằng chứng thể hiện sự ảnh hưởng của tính thanh khoản (LIQ) đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
7 Nguyễn Hồ Phi Hà và Mai Thanh Tú (2021) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trên sàn chứng khoán. Tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu dựa trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó đưa ra kết luận cho thấy, tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản và số năm hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc vốn đối với những doanh nghiệp kinh doanh bất động sản có lãi. Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ba yếu tố có tác động tích cực đến cấu trúc vốn bao gồm năng lượng tái tạo, quy mô và tốc độ tăng trưởng, bên cạnh đó thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp không ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của các doanh nghiệp này.
Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm xây dựng cấu trúc vốn hiệu quả cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, xây dựng kế hoạch phát triển, xem xét từng giai đoạn hoạt động của ngành bất động sản nhằm đánh giá khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp theo từng năm, từng giai đoạn để có cơ chế huy động các nguồn tài trợ phù hợp, đồng thời tận dụng quy mô tài sản khi sử dụng nợ và cuối cùng là tối đa hóa lợi ích của việc sử dụng nợ. Nguyễn Thị Đào (2022) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Tác giả đã nêu rõ việc xác định cấu trúc vốn tối ưu không phải là một khoa học chính xác, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn.
Bài viết đã đề cập đến các lý thuyết về cấu trúc vốn: lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu, lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết phát tín hiệu, lý thuyết trật tự phân hạng sau đó tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn. Nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố sự ổn định của doanh thu, cơ cấu tài sản, đòn bẩy hoạt động, tốc độ tăng trưởng, lợi nhuận, thuế, quan điểm của ban giám đốc, quan điểm 8 của người cho vay và tổ chức xếp hạng tín nhiệm, điều kiện thị trường, điều kiện nội tại của công ty đều các tác động đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Khoảng trống nghiên cứu Hầu hết các bài nghiên cứu đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về cấu trúc vốn cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Trong đó, một số tác giả lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán nói chung, trong khi một số khác tập trung đi sâu nghiên cứu về một số ngành cụ thể như xây dựng, sản xuất, hàng tiêu dùng, … Các bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các ngành hàng chiếm tỷ trọng lớn, đối với ngành vật liệu xây dựng chưa có nhiều nghiên cứu liên quan.
Bên cạnh đó, đối với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên phạm vi toàn bộ các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên sàn HOSE với số liệu mới nhất trong 05 năm từ 2018-2022. Hơn nữa, trong giai đoạn này, thị trường vật liệu xây dựng có rất nhiều thay đổi do ảnh hưởng của dịch bệnh và tình hình thế giới có nhiều biến động. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn 1.